- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HS – ST Ngày: 22/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quý Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Y Hiền
Ông Vũ Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Võ Q Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐăkHà tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo: Hà Văn Q; sinh ngày 24 tháng 9 năm 1998 tại tỉnh Kon Tum. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Thanh Xuân, xã Đăk Ngọk, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Hà Văn T; Sinh năm: 1971 và bà Lò Thị Th; Sinh năm: 1972; bị cáo có vợ tên Y KH; sinh năm: 2000 và 01 con sinh năm: 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: A V; sinh năm 1934; địa chỉ: thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
+ Bà Y L; sinh năm: 1949; địa chỉ: thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
+ Bà Y L; sinh năm: 1979; địa chỉ: thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
+ Bà Y L; sinh năm: 1981; địa chỉ: TDP 2b, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
+ Bà Y L; sinh năm: 1985; địa chỉ: TDP 2b, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
+ Bà Y L; sinh năm: 1988; địa chỉ: thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt
+ Ông A Th; sinh năm: 1973; địa chỉ: thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Y l, Y Loan, Y l, Y l, Y l: ông A Th theo giấy ủy quyền đề ngày 05/9/2023.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Lò Thị Th; sinh năm 1972; địa chỉ: thôn Thanh Xuân, xã Đăk Ngọk, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
+ Hà Văn C; sinh năm: 1996; địa chỉ: thôn Thanh Xuân, xã Đăk Ngọk, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 00 ngày 10/7/2023, Hà Văn Q điều khiển xe môtô biển kiểm soát 82B1-437.01 đi từ nhà tại thôn Thanh Xuân, xã Đăk Ngọk, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum đến thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum mua thuốc kích thích ra rễ cho cây cà phê. Sau khi mua thuốc xong, Q điều khiển xe môtô đến thôn 7, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum đổ xăng. Sau đó, Q điều khiển xe môtô quay về nhà. Đến khoảng 07 giờ 30 cùng ngày, khi đến đoạn đường nhựa liên xã thuộc thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum thì Q phát hiện phía trước cách khoảng 50m có ông A Với đang đi bộ từ đường bê tông bên phải (theo hướng di chuyển của Q) ra đường nhựa; Q tiếp tục điều khiển xe môtô lên dốc với tốc độ khoảng 35km/h. Ông A Với đi tới mép đường nhựa thì đi dọc theo mép đường nhựa về phía trên dốc. Khi xe môtô còn cách ông A Với khoảng 15m, Q bấm còi và hạ tốc độ xe xuống khoảng 30km/h. Khi xe môtô còn cách ông A Với khoảng 06m, Q thấy ông A Với bước qua đường. Lúc này, Q nghĩ đánh lái xe sang trái sẽ tránh được va chạm với ông A Với nên Q không giảm tốc độ, không đạp thắng cho xe dừng lại mà thực hiện việc đánh lái sang trái để tránh né. Khi vừa đánh lái sang trái thì xe môtô do Q điều khiển tông va vào người ông A Với làm người và xe môtô ngã xuống đường; ông A Với được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum cấp cứu và tử vong sau đó; xe môtô bị hư hỏng.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường nhựa liên xã thuộc thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum. Đây là đoạn đường dốc, đỉnh dốc hướng đi xã Đăk Ngọk (Tây Nam), chân dốc hướng đi xã Đăk Ui (Đông Bắc), độ dốc khoảng 100, vị trí tai nạn đoạn lưng chừng dốc. Đoạn đường không có biển báo, hai bên có dân cư sinh sống. Đây là đoạn đường thẳng được trải nhựa nhựa phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế. Hiện trường ghi nhận để lại: Vị trí xe môtô biển kiểm soát 82B1.437.01; 01 (một) vết cà và 02 (hai) vết máu của nạn nhân (ký hiệu VM1, VM2). Lấy chiều hướng khám nghiệm theo hướng xã Đăk Ui đi xã Đăk Ngọk; các số đo tính đến mép đường nhựa bên phải. Qua đo đạc thu được kết quả: Lòng đường rộng 5,8m; Xe môtô biển kiểm soát 82B1-437.01 ngã nằm trên đường, đầu xe quay hướng Tây Nam, đuôi xe quay hướng Đông Bắc; phần bên phải xe tiếp xúc với mặt đường. Trục trước xe môtô đến mép đường nhựa bên phải là 3,4m; trục sau xe môtô đến mép đường nhựa bên phải là 3m; Vết cà dài 0,1m; đầu vết cà đến mép đường nhựa bên phải là 3m, cuối vết cà đến mép đường nhựa bên phải là 3,02m; Vết máu 1 và 2 được xác định là vết máu của nạn nhân A Với. Vết máu 1 có kích thước (06 x 07)cm, tâm vết máu 1 đến mép đường nhựa bên phải là 4,73m. Vết máu 2 có kích thước (07 x 08)cm, tâm vết máu 2 đến mép đường nhựa bên phải là 4,45m; Qua khám nghiệm xác định các vị trí va chạm giữa xe môtô biển kiểm soát 82B1-437.01 với ông A Với chiếu vuông góc với mặt đường gọi là điểm đụng đầu (ký hiệu Đ3). Từ điểm đụng đến mép đường nhựa bên phải là 2,85m; đến trục trước xe môtô là 0,9m; đến trục sau xe môtô là 0,4m; đến đầu vết cà là 0,2m; đến tâm vết máu 1 là 2,4m; đến tâm vết máu 2 là 2,9m; Lấy trụ điện có ký hiệu 47/DAHA/88/X.DUI nằm bên phải đường làm vật chuẩn. Từ vật chuẩn đến mép đường nhựa bên phải là 4,6m; đến điểm đụng là 7,7m; đến đầu vết cà là 7,8m; đến trục sau xe mô tô là 7,8m; đến trục trước xe môtô là 8,4m; đến tâm vết máu 1 là 9,9m; đến tâm vết máu 2 là 10m; Có một đường bê tông nằm phía bên phải theo hướng xã Đăk Ui đi xã Đăk Ngọk rộng 2,9m. Từ tâm đường bê tông đến vị trí chiếu vuông góc của điểm đụng với mép đường nhựa là 6,3m.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 61/KLGĐTT-TTPY ngày 21/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Kon Tum kết luận: Nguyên nhân chết của ông A Với: Đa chấn Th.
Tại Kết luận giám định tư pháp ngày 31/7/2023 của Giám định viên tư pháp thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Kon Tum kết luận giám định tư pháp về tình trạng an toàn kỹ thuật phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông: Phương tiện mang biển kiểm soát 82B1-437.01: Bên ngoài xe: Mép ngoài cánh manh chắn gió bên trái bị trầy xước. Cánh manh chắn gió bên phải bị nứt, trầy xước. Kiểm tra hệ thống phanh, hệ thống lái, hệ thống đèn: Hoạt động bình thường, không phát hiện có hiện tượng bị hư hỏng.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn: Tại phiếu kiểm tra nồng độ cồn số ID 877871, biên bản số 00390 do cán bộ Đội Cảnh sát Giao thông Công an huyện Đăk Hà lập hồi 10h34 ngày 10/7/2023, kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của Hà Văn Q là 0,000 mg/L.
Tại Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐG ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đăk Hà kết luận: Xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, màu sơn Đen - Xám, biển kiểm soát 82B1-437.01; Thời điểm định giá tháng 7/2023; Giá trị tài sản là 412.000 đồng (Bốn trăm mười hai ngàn đồng).
Về giấy phép lái xe: Hà Văn Q có giấy phép lái xe hạng A1 số 640207745234 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai cấp ngày 01/6/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Ông A Thiền yêu cầu Hà Văn Q bồi thường số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Quá trình điều tra, truy tố bị can đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Đối với thiệt hại của xe môtô biển kiểm soát 82B1-437.01, chủ sở hữu anh Hà Văn Cường không yêu cầu bị cáo Hà Văn Q phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 42/CT – VKSĐH – HS ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo Hà Văn Q về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hà Văn Q về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn Q từ 20 tháng đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 40 tháng đến 52 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, tại phiên tòa về việc bị cáo Hà Văn Q phải tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của người bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe mang tên Hà Văn Q.
Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, khi điều khiển xe môtô biển kiểm soát 82B1-437.01 theo hướng xã Đăk Ui đi xã Đăk Ngọk đến đoạn đường nhựa liên xã thuộc thôn 8, xã Đăk Ui, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, bị cáo Hà Văn Q phát hiện phía trước cùng chiều ông A Với đang đi bộ qua đường. Lúc này, Q đánh lái sang trái để tránh né mà không thực hiện việc giảm tốc độ, đạp thắng cho xe dừng lại. Khi vừa đánh lái sang trái thì xe môtô do Q điều khiển tông va vào người ông A Với làm người và xe môtô ngã xuống đường; hậu quả ông A Với tử vong sau đó, xe môtô bị hư hỏng. Hành vi điều khiển xe môtô tham gia giao thông khi phát hiện phía trước có người đi bộ qua đường nhưng không giảm tốc độ (phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn) và không chú ý quan sát để giữ khoảng cách (đã vi phạm Điều 11, 12 Luật Giao thông đường bộ; vi phạm Điều 4, 5, 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ) của bị cáo Hà Văn Q gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả làm ông A Với tử vong đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Hà Văn Q đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi vô ý, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể quan trọng mà pháp luật công nhận và bảo vệ đó là: tính mạng, sức khỏe của người khác tham gia giao thông đường bộ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi đã gây ra.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Nhận thấy, trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), ngoài ra, trong vụ án này người bị hại cũng có một phần lỗi đó là khi đi bộ qua đường không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn khi qua đường (Vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ), tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;
Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng của vụ án:
- 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 82B1-437.01, số máy E3T6E132301, số khung 710GY0877721, nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, loại xe hai bánh, màu sơn Đen - Xám, tình trạng bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
Quá trình điều tra, xác định: Xe môtô biển kiểm soát 82B1-437.01 có giấy đăng ký xe môtô, xe máy mang tên Hà Văn Cường là anh trai ruột của bị cáo Hà Văn Q. Xét thấy việc trả lại vật chứng không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, ngày 16/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 01 xe môtô biển kiểm soát 82B1-437.01 cho chủ sở hữu anh Hà Văn Cường tiếp tục quản lý, sử dụng. Nhận thấy việc trả lại giấy tờ, phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, là đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 640207745234 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai cấp ngày 01/6/2020 mang tên Hà Văn Q. Xét thấy, đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã thăm hỏi và bồi thường số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) cho người đại diện hợp của người bị hại. Đại diện hợp pháp của người bị hại yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 50.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất thỏa thuận bị cáo Hà Văn Q có trách nhiệm bồi thường số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Xét thấy, việc bị cáo và đại diện của người bị hại thỏa thuận được các khoản tiền bồi thường thiệt hại nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và việc gia đình bị hại tự thỏa thuận để cho ông A Thiền là người nhận toàn bộ số tiền bồi thường thiệt hại từ bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên xử bị cáo Hà Văn Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[1] Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (Bốn mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án 17/01/2024.
Giao bị cáo Hà Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã Đăk Ngọk, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đăk Ngọk, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Hà Văn Q thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 357; Điều 468; Điều 584; Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 591 Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm giữa bị cáo Hà Văn Q và người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông A Thiền. Buộc bị cáo Hà Văn Q phải tiếp tục bồi thường số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày ông A Thiền có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không tự nguyện thi hành đối với khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo Hà Văn Q 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 640207745234 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai cấp ngày 01/6/2020.
(Các vật chứng có đặc điểm, hình dạng, kích thước như trong Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 29 tháng 11 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Hà được ban hành kèm theo Quyết định chuyển vật chứng số: 24/QĐ-VKSĐH-HS ngày 27/11/2023 của VKSND huyện Đăk Hà).
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hà Văn Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tối cao;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- TAND cấp cao tại TP Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Kon Tum;
- VKSND tỉnh Kon Tum;
- VKSND huyện Đắk Hà;
- CQĐT Công an huyện Đắk Hà;
- Bị cáo;
Lê Quý Nhân
- Đại diện hợp pháp của người bị hại;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Lưu HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
===
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại TP Đà Nẵng; - TAND tỉnh Kon Tum; - VKSND huyện Đắk Hà; - CQĐT Công an huyện Đắk Hà; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Quý Nhân |