- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh V và đại diện hợp pháp của các bị hại;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HS-PT Ngày: 23 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Bách.
Các Thẩm phán: Bà Ninh Thị Kiều Hạnh;
Bà Phạm Thị Anh Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hán Thị Hồng Đào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu– Kiểm sát viên.
Ngày 23 - 01 - 2024, tại Phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 115/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Minh V do có kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của các bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Minh V, sinh năm: 1991, tại tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: Khu phố H, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn L và bà Bùi Thị P; Vợ là Nguyễn Thị Diệu H và 02 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ , tạm giam: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: 1. Anh PiNăng D, sinh năm 198 (Đ chết). 2. Anh Bùi Thanh H1, sinh năm 19 (Đ chết).
- Đại diện hợp pháp của các bị hại có kháng cáo: 1. Anh Pi Năng D1, có hai con là Pinăng D2, sinh ngày 18/ /2009, Cháu Pinăng Thị M, sinh ngày 1 /11/2011, đ ly hôn với chị Pi Năng Thị H2 theo bản án số 0 /2019/HNGĐ-ST ngày 21/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Đại diện hợp pháp của bị hại Pi N: Cháu Pinăng D2, sinh ngày 18/ /2009, Cháu Pinăng Thị M, sinh ngày 1 /11/2011. Là các con ruột Đại diện theo pháp lu t của cháu D2 và cháu M1: chị Pinăng Thị H3, sinh năm: 1984; Nơi cư trú: Thôn Đ, x P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
- Ng i b o vệ quy n và lợi ích hợp pháp của cháu Pinăng D2 và cháu Pinăng Thị M2: Ông Lâm Thế N – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa. 2. Đại diện hợp pháp của anh Bùi Thanh H1: Chị Võ Thị Kim T, sinh năm 1973, Anh Bùi Thành T1, sinh năm 1992, Chị Bùi Võ Trúc H4, sinh năm 2003. Là vợ và các con anh H1. Do chị Võ Thị Kim T đại diện theo ủy quyền. Nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt tại phiên tòa. Ngoài ra, còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Vào trưa ngày 1 /01/2023, Nguyễn Minh V cùng với ông Bùi Thanh H1 (cậu ruột) dự tiệc tân gia tại nhà người thân ở x P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận và có sử dụng rượu, bia.
Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển xe mô tô biển số 85B1 - 054.69 chở ông H1 theo đường Tỉnh lộ 0 để về nhà ở thành phố P - T. Đến đoạn đường Km
400 m thuộc thôn T, x L, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, vì đ có sử dụng bia t trước nên Nguyễn Minh V buồn ngủ, thiếu tỉnh táo, không tập trung và thiếu quan sát nên đ điều khiển xe di chuyển sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình.
Cùng lúc này, V phát hiện phía đối diện có xe mô tô biển số 85G1 - 062.08 do anh Pi Năng T2 điều khiển chở anh PiNăng D lưu thông về hướng ngược lại. Thấy V di chuyển sang trên đường ngược chiều, anh T2 đánh lái sang trái để tránh xe V. Cùng lúc này, V đánh lái để điều khiển xe di chuyển trở lại phần đường bên phải dẫn đến xe Vương va chạm thẳng vào phần bên phải xe anh T2 làm 02 xe mô tô và anh T2, anh H1, V ng xuống đường, anh D bị ng rơi xuống mương nước chạy song song với tỉnh lộ 0 trôi đi 00 m.
Hậu quả: Anh Pi Năng D1 chết tại chỗ; Ông Bùi Thanh H1 chết trên đường đưa đi cấp cứu; Anh Pi Năng T2, Nguyễn Minh V bị thương nh , hai xe mô tô đều bị hư hỏng.
Tại Biên bản đo nồng độ cồn lúc 19 giờ 23 phút, ngày 1 /01/2023 do Công an huyện N lập, thể hiện: trong hơi thở của Nguyễn Minh V có nồng độ cồn là 0,941 miligam/lít khí thở.
Tại bản Kết luận Giám định pháp y về tử thi số 10/TT, ngày 1 /01/2023 của Trung tâm Giám định Pháp y - Y khoa tỉnh N kết luận: Nguyên nhân chết của Pi Năng D là do ngạt nước.
Tại bản Kết luận Giám định pháp y về tử thi số 09/TT, ngày 1 /01/2023 của Trung tâm Giám định Pháp y - Y khoa tỉnh N kết luận: Nguyên nhân chết của anh Bùi Thanh H1: Vì gia đình không đồng ý cho giải phẫu tử thi qua các tổn thương khám bên ngoài không đủ yếu tố kết luận nguyên nhân chết.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đ quyết định:
Căn cứ: các điểm b và đ khoản 2 Điều 2 0, Điều 38, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 1, khoản 1 Điều 4 Bộ luật Hình sự năm 201 .
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh V 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính t ngày b t thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
* Phần kháng cáo:
- Ngày 03/10/2023, bị cáo Nguyễn Minh V kháng cáo xin giảm nh , được hưởng án treo.
- Ngày 02/10/2023 đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Thanh H1: chị Võ Thị Kim T kháng cáo xin cho bị cáo Nguyễn Minh V giảm nh , được hưởng án treo.
- Ngày 0 /10/2023 đại diện hợp pháp của bị hại Pi N: chị Pi Năng Thị H2 kháng cáo xin cho bị cáo Nguyễn Minh V giảm nh được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và đại diện hợp pháp của các bị hại giữ nguyên kháng cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thu n phát biểu quan điểm gi i quyết vụ án:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh V và đại diện hợp pháp của các bị hại là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: bị cáo Nguyễn Minh V đ sử dụng rượu bia trong hơi thở có nồng độ cồn 0,941 mg/1 lít khí thở, bị cáo điều khiển mô tô thiếu tỉnh táo, quan sát gây ra tai nạn. Bị cáo lấn sang phần đường ngược chiều làm chết hai người. Bị cáo có các tình tiết giảm nh theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đ được cấp sơ thẩm xem xét. Bị cáo có 2 tình tiết tăng nặng định khung của Khoản 2 Điều 2 0 BLHS. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Mức hình phạt là phù hợp, bị cáo không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo Điều 65 BLHS.
Đề nghị HĐXX phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận áp dụng điểm a khoản 1 Điều 3 , Điều 3 BLTTHS, tuyên xử: không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn đối với bị cáo Nguyễn Minh V. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
- Trợ giúp viên pháp lý trình bày ý kiến:
Hoàn toàn nhất trí với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo pháp luật của cháu D2, cháu M kháng cáo xin giảm nh cho bị cáo được hưởng án treo nhưng không có tình tiết giảm nh mới. Đề nghị xem xét thấu tình đạt lý.
- Bị cáo nói l i sau cùng: hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định nh sau:
Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo Nguyễn Minh V và đại diện hợp pháp của các bị hại kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh V khai nhận hành vi phạm tội của mình, có đủ căn cứ xác định:
Nguyễn Minh V có giấy phép lái xe mô tô đúng quy định pháp luật nhưng khi tham gia giao thông chở anh Bùi Thanh H1 ngồi ở phía sau lại sử dụng bia, trong hơi thở có nồng độ cồn 0,941 miligam/1 lít khí thở vượt quá mức quy định (0,2 miligram/1 lít khí thở) nên buồn ngủ, thiếu tỉnh táo, không tập trung và thiếu quan sát đ điều khiển xe di chuyển sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình tung vào xe mô tô do anh Pi Năng T2 điều khiển chở anh Pi Năng D lưu thông về hướng ngược lại theo hướng đi của V, làm 02 xe mô tô và anh T2, anh H1, V ng xuống đường, anh D bị ng rơi xuống mương nước. Hậu quả: làm chết Anh Pi Năng D, anh Bùi Thanh H1, 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Bị cáo Nguyễn Minh V đ vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019; Lỗi gây ra tai nạn hoàn toàn thuộc về bị cáo.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Minh V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với 2 tình tiết định khung là “sử dụng rượu, bia mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” , “Làm chết 02 người” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh V thể hiện bất chấp pháp luật, đ xâm phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ng a chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đ căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại và đ xem xét đến hoàn cảnh gia đình khó khăn của bị cáo; quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Điều 54 BLHS quyết định mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh V 20 tháng tù (khung hình phạt t 3 – 10 năm tù), đ xem xét giảm nh cho bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị hại, thấy rằng:
Mặc dù, bị cáo Nguyễn Minh V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên, lỗi gây ra tai nạn hoàn toàn thuộc về bị cáo, hành vi phạm tội thuộc tội rất nghiêm trọng. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không có tình tiết giảm nh nào mới và bị cáo thuộc trường hợp không được hưởng án treo.
Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Minh V và đại diện hợp pháp của các bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa.
Về án phí phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 32 /201 /UBTVQH14 ngày 20 tháng 12 năm 201 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[ ] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 3 , Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh V và đại diện hợp pháp của các bị hại;
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 45/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận về phần hình phạt;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm b, đ khoản 2 Điều 2 0, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh V 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày đi thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh V phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án (ngày 23 - 01 - 2024).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Sơn; - TAND huyện Ninh Sơn (02 bản); - Công an huyện Ninh Sơn; - Chi cục THADS huyện Ninh Sơn; - PV 27; - Sở Tư pháp (kèm án sơ thẩm); - Người đ kháng cáo; - Phòng KTNV-THA; HCTP; - Lưu: án văn, hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Bách |