vanban.org

Bản án 08/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Tẩn San Đ được ly hôn với chị Tẩn Páo M. Về con chung: Giao cháu Tẩn Mạnh H, sinh ngày 11/9/2013, cho anh Tẩn San Đ là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Chị Tẩn Páo M có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với anh Đ là người trực tiếp nuôi và c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Di, May"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST
Ngày 09-01-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh; Ông Lò Văn Chiên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 01/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 10 năm 2023, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Tẩn San Đ, sinh năm: 1990, địa chỉ: Bản C, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Tẩn Páo M, sinh năm: 1996, địa chỉ: Bản Chiêu Sải P, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Tẩn San Đ trình bày:

Anh Tẩn San Đ và chị Tẩn Páo M là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 13/01/2014, tại Ủy ban nhân dân xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cấp. Anh Đ, chị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, anh Tẩn San Đ và chị Tẩn Páo M chung sống hạnh phúc được khoảng 4 năm, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do từ năm 2016, giữa anh Đ, chị M xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị M đi làm ăn xa nhà, vợ chồng không thường xuyên quan tâm, hỏi thăm nhau. Khi chị M đi làm xa nhà chị M cũng không nói cho anh Đ biết chị M làm ở đâu, làm công việc gì. Chị M không quan tâm đến gia đình, không có đóng góp kinh tế để lo cho cuộc sống gia đình. Anh Đ và chị M đã sống ly thân từ cuối năm 2016, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Anh Đ đã nhiều lần gọi điện cho chị M, động viên chị M về nhưng chị M không về. Hiện nay, chị M không có thai và không nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Anh Đ không còn tình cảm với chị M nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Đ được ly hôn với chị M.

Về con chung: Anh Tẩn San Đ và chị Tẩn Páo M có 01 con chung là cháu: Tẩn Mạnh H, sinh ngày 11/9/2013. Từ khi chị M đi làm ăn xa, anh Đ và chị M sống ly thân thì cháu H ở cùng với anh Đ, được anh Đ nuôi dưỡng, quan tâm, chăm sóc. Sau khi ly hôn, anh Đ mong muốn được nuôi cháu H, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đ và chị M không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Theo lời khai của cháu Tẩn Mạnh H: Hiện nay, cháu đang ở với bố, được bố yêu thương, quan tâm, chăm sóc. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Kết quả xác minh của Tòa án, xác định: Chị Tẩn Páo M cư trú tại bản Chiêu Sải Phìn, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Chị M đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có mặt tại địa phương. Chị M không khai báo tạm vắng, không cung cấp thông tin về nơi ở của bản thân nên không ai biết chị M đang ở đâu. Từ khi đi làm ăn xa, chị M vẫn liên lạc, gọi điện về bên nhà mẹ đẻ để hỏi thăm gia đình. Chị M đã biết việc anh Đ xin ly hôn, chị M nhất trí ly hôn với anh Đ, nhất trí để anh Đ nuôi con sau ly hôn. Chị M không có tranh chấp về tài sản khi ly hôn.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của anh Tẩn San Đ, xử: Về quan hệ hôn nhân: Anh Tẩn San Đ được ly hôn với chị Tẩn Páo M. Về con chung: Giao cháu Tẩn Mạnh H cho anh Tẩn San Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Đ phải tạo điều kiện cho chị M được thăm nom, chăm sóc cháu H theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Tẩn San Đ không yêu cầu chị Tẩn Páo M phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là anh Tẩn San Đ có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa anh Đ và bị đơn là chị Tẩn Páo M. Chị M đã sinh sống và có nơi đăng ký thường trú là: Bản Chiêu Sải Phìn, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tại thời điểm anh Đ gửi đơn đến Tòa án xin ly hôn thì anh Đ không biết chị M đi làm công việc gì, ở đâu. Vì vậy, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Tẩn San Đ và chị Tẩn Páo M là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 13/01/2014, tại Ủy ban nhân dân xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo đúng quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh Đ và chị M chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu rồi thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không chia sẻ, thông cảm cho nhau. Chị M đi làm xa nhà, hai vợ chồng không yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau. Chị M không nói cho anh Đ biết chị M đi làm công việc gì, làm ở đâu. Anh Đ và chị M đã sống ly thân, không còn yêu thương nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện nay, anh Đ không còn tình cảm với chị M nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Đ được ly hôn với chị M. Chị M cũng nhất trí ly hôn với anh Đ. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải và triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, chị M vắng mặt không có lý do. Giữa chị M và anh Đ không còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại thời điểm hiện nay, chị M không có thai, không nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ, giải quyết cho anh Đ được ly hôn với chị M theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Từ khi anh Đ, chị M sống ly thân, cháu Tẩn Mạnh H sống cùng với bố, được bố quan tâm, chăm sóc. Khi được Tòa án hỏi ý kiến, cháu H trình bày cháu có nguyện vọng được ở với bố. Hiện nay, anh Đ có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H và có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu H. Chị M cũng nhất trí để anh Đ nuôi dưỡng cháu H. Vì vậy, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu H cho anh Đ là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị M có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với anh Đ là người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Đ cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh Đ không yêu cầu chị M cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản: Anh Đ và chị M không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là anh Tẩn San Đ, là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, anh Đ có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử quyết định cho nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Tẩn San Đ được ly hôn với chị Tẩn Páo M.

- Về con chung: Giao cháu Tẩn Mạnh H, sinh ngày 11/9/2013, cho anh Tẩn San Đ là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Chị Tẩn Páo M có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với anh Đ là người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Đ cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Tẩn San Đ không yêu cầu chị Tẩn Páo M phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Anh Tẩn San Đ và chị Tẩn Páo M không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ