- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn; Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị Trương Thị Kim S và anh Cao Văn N"
- Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 22-02-2024. “V/v Ly hôn; Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị Trương Thị Kim S và anh Cao Văn N” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Vạn Thế.
2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diễm Quỳnh - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở của Tòa án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 11 năm 2023, về “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 01 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Kim S, sinh năm 2003; Địa chỉ: Số A, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Chị S vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Cao Văn N, sinh năm 1994; Địa chỉ Số 193, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Anh N vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Kim S trình bày:
Chị S và anh N được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, đến ngày 22/12/2021 chị S và anh N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 22/12/2021. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên xảy ra mâu thuẫn nhiều lần trong cuộc sống hôn nhân. Anh N thường xuyên xúc phạm chị S và cha mẹ chị S. Đến đầu năm 2023, vợ chồng chị S, anh N thật sự không còn sống chung. Hiện nay, chị S xác định vợ chồng không thể tiếp tục sống chung do mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc.
Quá trình sống chung chị S và anh N có 01 (môt) con chung tên Cao Trương Mỹ X, sinh ngày 24/11/2022. Từ khi vợ chồng không còn chung sống thì cháu X đang sống cùng và do chị S trực tiếp nuôi dưỡng.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị Trương Thị Kim S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị S cho rằng chị S không còn tình cảm với anh Cao Văn N, nên chị S yêu cầu ly hôn với anh N; Về con chung, chị S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Cao Trương Mỹ X, sinh ngày 24/11/2022, chị S không yêu cầu anh N có nghĩa vụ đóng góp chi phí (cấp dưỡng) nuôi con chung tên X cùng chị S; Về tài sản chung, nợ chung, chị S không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là anh Cao Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, bản photo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn và các văn bản tố tụng khác. Nhưng bị đơn không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án. Đồng thời anh N cũng không có mặt tại Tòa án khi được Tòa án triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án, cũng như tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Việc chị Trương Thị Kim S xin ly hôn anh Cao Văn N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị S và anh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Do anh N có địa chỉ thường trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với chị S là nguyên đơn, anh N là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng chị S có đơn xin xét xử vắng mặt và anh N vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị S và anh N theo thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại các Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân:
Việc chị Trương Thị Kim S và anh Cao Văn N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp có Giấy chứng nhận kết hôn số 74, ngày 22/12/2021 là chứng cứ chứng minh. Vì thế, có đủ cơ sở để xác định việc đăng ký kết hôn của chị S và anh N đã đảm bảo các điều kiện kết hôn và tuân thủ quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm đăng ký kết hôn, nên được Tòa án công nhận là vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Tuy nhiên, sau khi cưới chị S và anh N sống chung được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, đến đầu năm 2023 vợ chồng không còn sống chung và quan tâm nhau, cho đến nay vẫn không thể hàn gắn được tình cảm. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau, nên thường xuyên mâu thuẫn. Do không còn tình cảm với anh N nên chị S đã thực hiện quyền yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình.
Khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh N tại địa chỉ mà chị S đã cung cấp trong đơn khởi kiện. Anh N cũng được Tòa án thông báo toàn bộ nội dung yêu cầu của chị S trong vụ án, cũng như thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án đối với vụ án. Nhưng anh N không cung cấp ý kiến phản bác, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì và cũng không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại các điều 91, 96 Bộ luật tố tụng dân sự. Mọi hậu quả pháp lý từ việc vắng mặt và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình, anh N phải tự chịu. Hành động của anh N còn cho thấy anh N không quan tâm đến cuộc hôn nhân này và cũng không có thiện chí đoàn tụ để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình cùng chị S. Từ đó, xác định chị S và anh N đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những nhận định nêu trên đã đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trương Thị Kim S để cho vợ chồng chị S và anh N ly hôn là phù hợp với quy tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Anh N và chị S thống nhất lời trình bày về con chung của vợ chồng, xác định vợ chồng có 01 (một) con chung tên Cao Trương Mỹ X, sinh ngày 24/11/2022, cháu X đang sống cùng và do chị S trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng không còn chung sống đến nay.
Chị S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu X, hiện con chung còn quá nhỏ (chưa đủ 3 tuổi) và đang sống cùng chị S, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S về nuôi con chung. Cụ thể giao con chung là cháu X cho chị S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và đảm bảo được sự ổn định về điều kiện sống của cháu.
Do chị S không yêu cầu anh N nghĩa vụ đóng góp chi phí (cấp dưỡng) nuôi cháu X cùng chị S và anh N cũng không có ý kiến gì về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét về chi phí đóng góp chi phí (cấp dưỡng) nuôi con chung của chị S và anh N.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 81; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn được quy định tại Điều 82; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau ly hôn được quy định tại Điều 83; Về quyền và căn cứ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về chia tài sản: Do chị Trương Thị Kim S và anh Cao Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Do chị Trương Thị Kim S và anh Cao Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trương Thị Kim S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo thực hiện theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Các điều 28, 35, 39, 91, 96, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Kim S và anh Cao Văn N.
2. Về nuôi con chung:
Giao con chung tên Cao Trương Mỹ X, sinh ngày 24/11/2022 cho chị Trương Thị Kim S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng (hiện cháu X đang do chị S trực tiếp nuôi dưỡng). Chị S không yêu cầu anh N có nghĩa vụ đóng góp chi phí (cấp dưỡng) nuôi con chung tên X cùng chị S.
Sau khi ly hôn, người trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con chung trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Người không trực tiếp nuôi con chung không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người trực tiếp nuôi con chung.
3. Về chia tài sản: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
5. Về án phí:
Chị Trương Thị Kim S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003255 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L (Chị S đã nộp đủ án phí).
Chị Trương Thị Kim S và anh Cao Văn N có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện L; - CC.THADS huyện L; - UBND xã Đ; (GCNKH số 74, ngày 22/12/2021) - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Thị Mỹ Xuân |