vanban.org

Bản án 08/2023/LĐ-PT — Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

TAND tỉnh Long An Tuyên án 18/07/2023 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V.

Sửa Bản án sơ thẩm số: 01/2023/LĐ-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đ. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phương K về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật và xử lý kỷ luật sa thải” với Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V, cụ thể đối với… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng — án lao động — "Trần Phương K "Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, xử lý kỷ luật sa thải" Công ty thuốc bảo vệ thực vật V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Bộ luật Lao động; Điều 125 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/LĐ-PT
Ngày 18-7-2023
V/v tranh chấp đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động, xử lý kỷ luật sa thải

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tấn Quốc

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Những

Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 18 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2023/TLPT-LĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, xử lý kỷ luật sa thải.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Phương K, sinh năm 1990. Địa chỉ cư trú: Số 162 A/1 Khu vực 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm 1993. Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, huyện T1, tỉnh Long An. Địa chỉ liên hệ: 33/5 Ô 6 Khu B, thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đ, tỉnh Long An (theo Văn bản ủy quyền ngày 26/11/2022, có mặt).

- Bị đơn: Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V. Địa chỉ trụ sở chính: Lô G05 – 1 KCN Đ 1 - Hạnh Phúc, Ấp 5, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Võ Hòa T2, sinh năm 1984. Địa chỉ cư trú: Ấp 6, xã N1, huyện B, tỉnh Long An (theo Văn bản ủy quyền ngày 22/6/2023, có mặt).

- Người kháng cáo: Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2022 và Đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 23/02/2023 của nguyên đơn ông Trần Phương K và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của ông Bùi Văn T là người đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn có nội dung như sau:

Ông K vào làm việc cho Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V (gọi tắt là Công ty V) từ tháng 02/2012. Quá trình làm việc, ông K được tái ký hợp đồng nhiền lần. Hợp đồng lao động đang có hiệu lực là Hợp đồng số 2/1-25/HĐLĐ/2019, công việc ông K làm là trưởng phòng thiết kế, lương theo hợp đồng là 9.000.000đ/tháng nhưng thực tế lương ông K nhận hằng tháng dao động từ 8.500.000đ đến 13.000.000đ. Bình quân 6 tháng liền kề gần nhất là 10.500.000đ/tháng. Hàng tháng ông K nhận lương qua chuyển khoản vào tài khoản cá nhân.

Vào tháng 5/2021, do vị trí việc làm của ông K có thể thực hiện tại nhà nên giữa ông K và Công ty V thỏa T2 là Ban giám đốc Công ty V cho ông K làm việc tại nhà tại Văn bản số 03/05-1/TB-2021 (theo đó ông K được làm việc tại nhà 04 năm kể từ ngày 03/5/2021 đến khi có thông báo mới). Trong quá trình làm việc ông K luôn hoàn thành nhiệm vụ do Công ty giao, không có bất cứ sai phạm nào nhưng bất ngờ ông K nghe bạn ông hỏi ông về lý do xin nghỉ việc. Đồng thời ngay sau đó ông K được đồng nghiệp công ty là chị Diệu Nương chuyển qua Zalo cho ông Thông báo số 25/08-1/TB-VT-2022 đề ngày 25/8/2022. Nội dung thông báo: “Nay, tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V trân trọng thông báo về việc thay đổi nhân sự như sau:1.Ông Trần Phương K nhân viên thiết kế sẽ ngừng công tác tại tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V kể từ ngày 26/8/2022; 2. Ông Nguyễn Khang Trang (điện thoại liên hệ xxxxxxxxxx) sẽ phụ trách mọi công việc liên quan đến thiết kế”. Từ đó ông K biết được Công ty V cho ông K nghỉ mà ông không biết rõ lý do, phía Công ty cũng không gửi thông báo hay quyết định gì cho ông K nghỉ mà Công ty đã gửi thông báo này cho nhiều người nhiều khách hàng đã từng làm việc với ông K.

Ngày 19/9/2022, Công ty V gửi thư điện tử qua mail cho ông K là Thông báo số 17/09 – 2/TB-VT-2002 ngày 17/9/2022 với nội dung: “1. Kể từ ngày 20/9/2022, ông Trần Phương K trở lại Công ty làm việc theo thời gian làm việc cụ thể như sau: từ thứ hai đến thứ bảy, bắt đầu từ 08 giờ đến 16 giờ 30 phút địa điểm làm việc tại trụ sở công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V, địa chỉ: Lô G05 – 1, KCN Đ 1- Hạnh Phúc, Ấp 5, xã Đ Đông, huyện Đ, tỉnh Long An. 2. Thông báo này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/9/2022 và làm chấm dứt hiệu lực của Thông báo số 03/05 – 1/TB-2021 ngày 03/5/2021”. Khi nhận được thông báo này ông K không đến công ty làm việc cũng từ tháng 8/2022, công ty cũng không trả tiền lương gì cho ông.

Ngày 27/10/2022 ông Trần Phương K đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Đ khởi kiện yêu cầu:

Buộc Công ty V phải bồi thường cho ông K các khoản sau:

1. Lương trong những ngày không được làm việc từ tháng 8/2022 đến khi xét xử sơ thẩm;

2. Bồi thường 02 tháng lương vi phạm khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động;

3. Bồi thường thêm 02 tháng tiền lương theo khoản 3 Điều 42 Bộ luật Lao động.

4. Bồi thường tiền lương vi phạm thời gian báo trước.

5. Đóng bổ sung tiền bảo hiểm gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong khoảng thời gian từ ngày 07/11/2022 đến ngày 24/3/2023 là 21%.

Lương làm căn cứ là 10.500.000đ.

Ngày 07/11/2022, Công ty V ban hành Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022 về việc thi hành kỷ luật sa thải đối với ông Trần Phương K.

Ngày 23/02/2023, ông Trần Phương K khởi kiện bổ sung đề nghị Tòa án hủy Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022 về việc thi hành kỷ luật sa thải đối với ông Trần Phương K.

Bị đơn Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V do bà Hoàng Ngọc Thùy D là người đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm có nội dung như sau:

Công ty V có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với ông Trần Phương K tại Hợp đồng số 2/1-25/HĐLĐ/2019, công việc của ông K là trưởng phòng thiết kế với mức lương là 9.000.000đ/tháng. Ngày 03/5/2021, giữa Ban giám đốc công ty và ông K có thỏa T2 là cho ông K làm việc tại nhà theo Thông báo số 03/05-1/TB-2021. Hình thức làm việc tại nhà là công ty sẽ giao khoán sản phẩm thiết kế cho ông K và trả lương qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của ông K. Trong quá trình làm việc tại nhà công ty thấy rằng mẫu thiết kế của ông K có dấu hiệu bị lộ cho công ty khác nên ngày 17/9/2022, Công ty V có ban hành Thông báo số 17/09-2/TB-VT-2022 có nội dung: “1. Kể từ ngày 20/9/2022, ông Trần Phương K trở lại Công ty làm việc theo thời gian làm việc cụ thể như sau: từ thứ hai đến thứ bảy, bắt đầu từ 08 giờ đến 16 giờ 30 phút địa điểm làm việc tại trụ sở công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V, địa chỉ: Lô G05 – 1, KCN Đ 1- Hạnh Phúc, Ấp 5, xã Đ1, huyện Đ, tỉnh Long An. 2. Thông báo này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/9/2022 và làm chấm dứt hiệu lực của Thông báo số 03/05 – 1/TB-2021 ngày 03/5/2021”. Văn bản này công ty gửi qua mail ông K theo địa chỉ [email protected] nhưng ông K cũng không đến Công ty làm việc. Ngày 18/10/2022, Công ty V tiếp tục ban hành Thông báo số 18/10-1/TB-VT-2022 về việc yêu cầu nhân viên trở lại công ty để xử lý kỷ luật lao động, Thông báo này cũng gửi qua mail của ông K nhưng ông K cũng không đến Công ty. Ngày 05/11/2022, Công ty V tiếp tục ban hành Thông báo số 02/11-1/TB-VT về việc tham dự cuộc họp xem xét xử lý kỷ luật lao động vào ngày 07/11/2022. Ngày 07/11/2022, Công ty V đã tổ chức họp xử lý vi phạm kỷ luật lao động đối với ông Trần Phương K. Ngày 07/11/2022, Công ty V đã ban hành Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT về việc thi hành kỷ luật lao động đối với ông Trần Phương K kể từ ngày 07/11/2022 với hình thức sa thải. Bởi vì ông K nghỉ việc từ 05 ngày làm việc cộng dồn trở lên trong phạm vi 30 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc hoặc 20 ngày làm việc cộng dồn trở lên trong phạm vi 365 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc (theo quy định tại Điều 23 Nội quy lao động Công ty). Đối với Thông báo số 25/08-1/TB-VT-2022 đề ngày 25/8/2022. Nội dung thông báo: “Nay, tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V trân trọng thông báo về việc thay đổi nhân sự như sau:1.Ông Trần Phương K nhân viên thiết kế sẽ ngừng công tác tại tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V kể từ ngày 26/8/2022; 2. Ông Nguyễn Khang T3 (điện thoại liên hệ xxxxxxxxxx) sẽ phụ trách mọi công việc liên quan đến thiết kế”, Công ty V không gửi cho ông K mà chỉ gửi cho các khách hàng biết về việc thay đổi vị trí việc làm của ông K. Đây không phải là quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông K. Việc công ty sa thải ông K là đúng trình tự luật định. Đối với tiền lương tháng 8/2022 đến tháng 11/2022 Công ty không trả cho ông K vì ông K làm việc theo hình thức khoán sản phẩm nên Công ty yêu cầu ông K trực tiếp đến Công ty xem xét quyết toán nhưng ông K không đến nên không quyết toán được. Vì vậy không có căn cứ tính lương cho ông K. Từ những lý do trên đề nghị Tòa án bác yêu cầu của ông K, Công ty V không đồng ý bồi thường bất cứ khoản tiền nào cho ông K.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty V tại cấp sơ thẩm phát biểu:

Công ty đã có thông báo yêu cầu ông K trở lại Công ty làm việc tại Thông báo số 17/09-2/TB-VT-2022 nhưng ông K không đến, từ đó Công ty ban hành các thông báo yêu cầu ông K đến dự họp xét kỷ luật nhưng ông K cũng không đến. Vì vậy Công ty V sa thải ông K là đúng quy định. Đối với Thông báo số 25/08-1/TB-VT-2022 đề ngày 25/8/2022. Nội dung thông báo: “Nay, tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V trân trọng thông báo về việc thay đổi nhân sự như sau:1.Ông Trần Phương K nhân viên thiết kế sẽ ngừng công tác tại tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V kể từ ngày 26/8/2022; 2. Ông Nguyễn Khang T3 (điện thoại liên hệ xxxxxxxxxx) sẽ phụ trách mọi công việc liên quan đến thiết kế” Công ty không giao cho ông K mà đây là thông báo cho các khách hàng của Công ty, không phải là quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông K. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2023/LĐ-ST ngày 24 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đ đã tuyên xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phương K về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật và xử lý kỷ luật sa thải” với Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V.

Hủy Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022 của Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V.

Buộc Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V phải bồi thường cho ông Trần Phương K các khoản sau:

1. Lương trong những ngày không được làm việc: 07 tháng 24 ngày x 9.000.000 đồng/tháng = 70.200.000 đồng.

2. Bồi thường 02 tháng lương vi phạm khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động x 9.000.000 đồng = 18.000.000 đồng.

3. Bồi thường thêm hai tháng tiền lương theo khoản 3 Điều 42 Bộ luật lao động 9.000.000 đồng x 02 tháng = 18.000.000 đồng.

4. Bồi thường tiền lương vi phạm thời gian báo trước 9.000.000 đồng x 1,5 tháng = 13.500.000 đồng.

5. Đóng bổ sung tiền bảo hiểm gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong khoản thời gian từ ngày 07/11/2022 đến ngày 24/3/2023 là 8.631.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng; án phí; quyền kháng cáo; quyền yêu cầu, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án.

Ngày 04/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Đ nhận được đơn kháng cáo của Công ty V kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bên không thỏa T2 được với nhau về việc giải quyết vụ án và vẫn giữ nguyên các ý kiến đã trình bày.

Ông Bùi Văn T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

- Ngày 25/8/2022, Công ty V ban hành Thông báo số 25/08-1/TB-VT-2022 với nội dung: “Nay, tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V trân trọng thông báo về việc thay đổi nhân sự như sau:1.Ông Trần Phương K nhân viên thiết kế sẽ ngừng công tác tại tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V kể từ ngày 26/8/2022; 2. Ông Nguyễn Khang T3 (điện thoại liên hệ xxxxxxxxxx) sẽ phụ trách mọi công việc liên quan đến thiết kế” phía bị đơn cho rằng đây không phải là thông báo cho ông K nghỉ việc là không đúng vì không có văn bản nào thay đổi vị trí việc làm của ông K trong Công ty. Lương tháng 8 của ông K cho đến nay Công ty không trả là không thực hiện đúng theo hợp đồng đã giao kết và không đảm bảo theo quy định của pháp luật lao động.

- Công ty cho rằng ông K đã tự ý nghỉ việc từ 05 ngày cộng dồn trở lên trong phạm vi 30 ngày là không đúng. Bởi vì ngày 25/8/2022 Công ty ra Thông báo số 25/08-1/TB-VT-2022 cho ông K ngừng công tác được người trong công ty làm chứng bà Nguyễn Thị Diệu Nương xác nhận tại Bản trình bày ý kiến ngày 22/12/2022. Ông K cho rằng mình bị cho nghỉ việc không rõ lý do nên ông K không đến công ty làm việc sau đó. Xét về hành vi Công ty cho ông K nghỉ việc và không trả lương cho ông K xảy ra trước là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

- Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022 của Công ty V về việc thi hành kỷ luật lao động đối với ông K là không đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật lao động. Vì Biên bản xử lý kỷ luật lao động của ông K không có chữ ký của người lao động và đại diện ban chấp hành công đoàn cơ sở là không đảm bảo đúng nguyên tắc và trình tự thủ tục theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 2 Điều 70 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

- Công ty lập Biên bản xử lý kỷ luật lao động và ban hành Quyết định xử lý kỷ luật lao động cùng ngày 07/11/2022 nhưng tại Phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 12/12/2022 phía Công ty không nộp toàn bộ hồ sơ xử lý kỷ luật lao động đối với ông K. Mãi đến cuối tháng 01/2023 Công ty mới nộp Quyết định xử lý kỷ luật và hồ sơ kèm theo đối với ông K cho Tòa án, phía ông K nhận được mail công ty gửi Quyết định kỷ luật lao động này vào lúc 16 giờ 10 phút ngày 30/01/2023. Từ những căn cứ này, hoàn toàn có cơ sở để tin rằng, Công ty đã phục hồi, bổ sung hồ sơ kỷ luật đối với ông K nhằm đối phó với Tòa án và với nguyên đơn.

Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định Công ty V đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với ông K. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị: Đơn kháng cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Về giải quyết yêu cầu kháng cáo:

Công ty V có ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn với ông K tại Hợp đồng số 2/1-25/HĐLĐ/2019, công việc của ông K là trưởng phòng thiết kế, trong quá trình làm việc tại nhà Công ty thấy rằng mẫu thiết kế của ông K có dấu hiệu bị lộ cho công ty khác nên ngày 17/9/2022, Công ty V có ban hành Thông báo số 17/09-2/TB-VT-2022 có nội dung: “1. Kể từ ngày 20/9/2022, ông Trần Phương K trở lại Công ty làm việc theo thời gian làm việc cụ thể như sau: từ thứ hai đến thứ bảy, bắt đầu từ 08 giờ đến 16 giờ 30 phút địa điểm làm việc tại trụ sở Công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V. 2. Thông báo này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/9/2022 và làm chấm dứt hiệu lực của Thông báo số 03/05-1/TB-2021 ngày 03/5/2021”. Văn bản này công ty gửi qua email ông K theo địa chỉ [email protected] nhưng ông K cũng không đến công ty làm việc.

Ngày 18/10/2022, Công ty V tiếp tục ban hành Thông báo số 18/10-1/TB-VT-2022 về việc yêu cầu nhân viên trở lại công ty để xử lý kỷ luật lao động, thông báo này cũng gửi qua email của ông K nhưng ông K cũng không đến Công ty. Ngày 05/11/2022, Công ty V tiếp tục ban hành Thông báo số 02/11-1/TB-VT về việc tham dự cuộc họp xem xét xử lý kỷ luật lao động vào ngày 07/11/2022. Ngày 07/11/2022, Công ty V đã tổ chức họp xử lý vi phạm kỷ luật lao động đối với ông K. Ngày 07/11/2022, Công ty V đã ban hành Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT về việc thi hành kỷ luật lao động đối với ông K kể từ ngày 07/11/2022 với hình thức sa thải. Bởi vì ông K nghỉ việc từ 05 ngày làm việc cộng dồn trở lên trong phạm vi 30 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc hoặc 20 ngày làm việc cộng dồn trở lên trong phạm vi 365 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc (theo quy định tại Điều 23 Nội quy lao động Công ty).

Đối với Thông báo số 25/08-1/TB-VT-2022 đề ngày 25/8/2022. Nội dung thông báo: “Nay, tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V trân trọng thông báo về việc thay đổi nhân sự như sau:1.Ông Trần Phương K nhân viên thiết kế sẽ ngừng công tác tại tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V kể từ ngày 26/8/2022; 2. Ông Nguyễn Khang T3 (điện thoại liên hệ xxxxxxxxxx) sẽ phụ trách mọi công việc liên quan đến thiết kế”, Công ty V không gửi cho ông K mà chỉ gửi cho các khách hàng biết về việc thay đổi vị trí việc làm của ông K. Đây không phải là quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông K. Việc công ty sa thải ông K là đúng trình tự luật định.

Ông K cho rằng, Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Thông báo số 25 ngày 25/8/2022 là không đúng bởi lẽ:

- Công ty không ban hành quyết định nào cho ông K thôi việc, Công ty chỉ thông báo việc ông K ngưng công tác cho khách hàng biết mà không giao thông báo trên cho ông K. Riêng Công ty cho ông K nghỉ theo hình thức sa thải, cụ thể là Quyết định xử lý sa thải số 07 ngày 07/11/2022 để đối phó với việc ông K nghỉ việc trong vụ án là không đúng, vì các thông báo để ông K đến Công ty tham gia buổi họp xét kỷ luật là trước khi ông K nhận được thông báo thụ lý vụ án. Ông K không đến Công ty khi có thông báo cho ông K quay lại làm việc là vi phạm nội quy Công ty.

- Đối với biên bản xử lý kỷ luật không có chữ ký của Ban chấp hành Công đoàn là có sai sót nhưng vẫn có đại diện người lao động. Công ty có mời ông K đến dự nhưng ông K không đến thì Công ty vẫn tiếp tục xem xét xử lý kỷ luật.

- Công ty vẫn tiếp tục thực hiện các chế độ bảo hiểm cho ông K đến ngày có quyết định kỷ luật.

Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của Công ty V là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty V, sửa Bản án sơ thẩm số 03/2023/LĐ-ST ngày 24/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền Tòa án giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xét xử theo trình tự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại các Điều 26, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bản án sơ thẩm đảm bảo thủ tục tố tụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định pháp luật.

Về việc giải quyết yêu cầu kháng cáo:

Công ty V kháng cáo yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Công ty V có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với ông Trần Phương K số 2/1-25/HĐLĐ/2019 từ ngày 01/01/2019, vị trí làm việc là trưởng phòng thiết kế với mức lương là 9.000.000đ/tháng. Ngày 03/5/2021, Công ty V có Thông báo số 03/05-1/TB-2021 thông báo chế độ làm việc tại nhà của ông K là 4 năm kể từ ngày 03/5/2021 đến khi có thông báo mới.

Trong quá trình làm việc tại nhà, Công ty V có Thông báo số 25/08-1/TB-VT-2022 ngày 25/8/2022 thông báo “Nay, tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V trân trọng thông báo về việc thay đổi nhân sự như sau:1.Ông Trần Phương K nhân viên thiết kế sẽ ngừng công tác tại tổng công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V kể từ ngày 26/8/2022; 2. Ông Nguyễn Khang T3 (điện thoại liên hệ xxxxxxxxxx) sẽ phụ trách mọi công việc liên quan đến thiết kế”. Phía ông K nhận được thông báo này qua zalo của đồng nghiệp và cho rằng phía Công ty V đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Công ty V cho rằng do thiết kế của ông K có dấu hiệu bị lộ cho công ty khác nên Công ty V thông báo cho khách hàng biết về việc ông K ngưng làm công tác thiết kế mẫu chứ không phải thông báo cho ông K nghỉ việc nên không gửi thông báo này cho ông K. Hội đồng xét xử xét thấy: Công ty V không gửi Thông báo số 25/08-1/TB-VT-2022 ngày 25/8/2022 cho ông K mà chỉ gửi cho khách hàng, đồng thời ngày 17/9/2022, Công ty V có Thông báo số 17/09-2/TB-VT-2022 gửi qua địa chỉ email: [email protected] vào lúc 08 giờ 31 phút ngày 19/9/2022 với nội dung: “1. Kể từ ngày 20/9/2022, ông Trần Phương K trở lại Công ty làm việc theo thời gian làm việc cụ thể như sau: từ thứ hai đến thứ bảy, bắt đầu từ 08 giờ đến 16 giờ 30 phút địa điểm làm việc tại trụ sở Công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật V. 2. Thông báo này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/9/2022 và làm chấm dứt hiệu lực của Thông báo số 03/05-1/TB-2021 ngày 03/5/2021”. Vì vậy, ông K cho rằng Công ty V đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 là không có căn cứ.

Từ ngày 20/9/2022 ông K đã không đến Công ty V làm việc, tự ý bỏ việc, nghỉ việc khi chưa có sự đồng ý của người có thẩm quyền trong Công ty. Công ty V cho rằng ông K vi phạm nội quy lao động, vi phạm những nghĩa vụ mà ông K đã thỏa T2 và giao kết với Công ty nên ngày 07/11/2022, Công ty V ban hành Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT về việc xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải đối với ông K. Ông K cho rằng Quyết định này không đúng nguyên tắc và trình tự thủ tục theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 2 Điều 70 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ, vì Biên bản xử lý kỷ luật lao động của ông K không có chữ ký của người lao động và đại diện ban chấp hành công đoàn cơ sở.

Xét thấy, về trình tự thủ tục ban hành Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022: Ngày 18/10/2022 Công ty V có Thông báo số 18/10-1/TB-VT-2022 về việc yêu cầu ông K trở lại Công ty để xử lý kỷ luật lao động (gửi qua email của ông K ngày 20/10/2022) và Thông báo số 02/11-1/TB-VT về việc yêu cầu ông K tham dự cuộc họp xem xét xử lý kỷ luật lao động (gửi qua mail của ông K ngày 02/11/2022). Tại Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động ngày 07/11/2022 của Công ty V, không có sự tham gia và chữ ký của Đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở và không có chữ ký của ông K là vì Công ty V chưa thành lập công đoàn cơ sở và ông K vắng mặt. Do đó, Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022 của Công ty V được ban hành đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 70 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ.

Về nội dung căn cứ ban hành Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022: Do ông K có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, tự ý nghỉ việc từ 05 ngày làm việc cộng dồn trở lên trong phạm vi 30 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có sự chấp T2 của người có thẩm quyền của công ty hoặc không có lý do chính đáng theo Điều 23 Nội quy lao động của Công ty V, vi phạm nghĩa vụ đã cam kết theo Hợp đồng lao động số 2/1-25/HĐLĐ/2019 ngày 01/01/2019 nên Công ty V ban hành Quyết định xử lý kỷ luật sa thải đối với ông K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019.

Xét thấy Quyết định số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022 của Công ty V xử lý kỷ luật sa thải đối với ông K là đúng quy định pháp luật nên ông K yêu cầu bồi thường lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 20/9/2022 đến 31/3/2023, bồi thường 02 tháng lương vi phạm khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động, bồi thường thêm 02 tháng tiền lương theo khoản 3 Điều 42 Bộ luật Lao động, bồi thường tiền lương vi phạm thời gian báo trước và đóng bổ sung tiền bảo hiểm gồm Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp trong khoảng thời gian từ ngày 07/11/2022 đến ngày 24/3/2023 là không có cơ sở chấp nhận. Công ty V đã thanh toán tiền lương cho ông K đến hết tháng 7/2022, đã trả Bảo hiểm xã hội cho ông K đến hết tháng 10/2022, Bảo hiểm y tế đến hết tháng 12/2022, Bảo hiểm tự nguyện đến hết tháng 9/2022 và Bảo hiểm tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp đến hết tháng 9/2022. Do ông K tự ý nghỉ việc, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 20/9/2022 nên Công ty V phải thanh toán tiền lương đến ngày 20/9/2022 cho ông K. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông K và Công ty V chưa chốt được các mẫu thiết kế để làm căn cứ trả lương cho ông K (lương cứng + lương sản phẩm thiết kế) nên để đảm bảo quyền lợi cho ông K thì ông K có quyền khởi kiện Công ty V yêu cầu thanh toán lương theo quy định bằng vụ kiện khác.

Từ những nhận định trên, xét thấy án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K là chưa có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của Công ty V, sửa một phần bản án sơ thẩm.

Về án phí sơ thẩm: Ông K được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về lao động không có giá ngạch và có giá ngạch.

Về án phí phúc thẩm: Công ty V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm đối với tranh chấp về lao động.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V.

Sửa Bản án sơ thẩm số: 01/2023/LĐ-ST ngày 31 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đ.

Căn cứ các Điều 32, 35, 39, 147, 148 và 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 122 và 125 Bộ luật Lao động năm 2019; Điều 70 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phương K về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật và xử lý kỷ luật sa thải” với Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V, cụ thể đối với các yêu cầu:

- Hủy Quyết định xử lý kỷ luật sa thải số 07/11-1/QĐ-VT ngày 07/11/2022 của Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V.

- Buộc Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V phải bồi thường cho ông Trần Phương K các khoản: Lương trong những ngày không được làm việc (từ ngày 20/9/2022 đến 31/3/2023) 07 tháng với số tiền 63.000.000 đồng; Bồi thường 02 tháng lương vi phạm khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động với số tiền 18.000.000 đồng; Bồi thường thêm 02 tháng tiền lương theo khoản 3 Điều 42 Bộ luật Lao động với số tiền 18.000.000 đồng; Bồi thường tiền lương vi phạm thời gian báo trước với số tiền 13.500.000 đồng và đóng bổ sung tiền bảo hiểm gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong khoản thời gian từ ngày 07/11/2022 đến ngày 24/3/2023 là 8.631.000 đồng.

2. Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Phương K được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về lao động không có giá ngạch và có giá ngạch.

3. Về án phí phúc thẩm: Công ty cổ phần Thuốc bảo vệ thực vật V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm đối với tranh chấp về lao động.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T2 thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ