vanban.org

Bản án 08/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 13/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Tiến P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Tiến P 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2022. Về hình phạt bổ sung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tiến P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tiến P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH P
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HSST
Ngày 13 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ Á N NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xé t xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh T

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tr

Ông Nguyễn Duy T

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Tr - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2023 ta ̣i tru ̣ sở Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án hình sự thu ̣ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Tiến P, sinh ngày 01/11/1988 tại V, P; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu 12, xã Đ, thành phố V, tỉnh P; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Bá Lưu, sinh năm 1950 và bà Đỗ Thị Ng, sinh năm 1959; Có vợ là Hoàng Thị Ngọc H, sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 07/7/2010, P bị Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức phạt tiền, mức phạt: 200.000 đồng. P đã nộp phạt ngày 12/7/2010.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2022. Qua xác minh tại chính quyền địa phương, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định, thường xuyên lang thang, tụ tập với các đối tương nghiện ma tuý trong và ngoài địa phương nếu để ngoài xã hội, bị cáo tiếp tục phạm tội. Do đó ngày 25/11/2022 Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với P. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 Pt ngày 20/11/2022, tại tổ 17, phố Đoàn Kết, phường Tiên Cát, thành phố V, tỉnh P, tổ công tác - Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện một người đàn ông có biểu hiện vi phạm pháp luật, người này tự khai họ tên là Lê Tiến P, sinh năm 1988, trú tại: Khu 12, xã Đ, thành phố V, tỉnh P. Quá trình kiểm tra P tự giác giao nộp 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng và khai nhận đây là gói ma tuý Heroine của P, mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với P, niêm phong thu giữ gói ma túy trên. Ngoài ra còn thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đen đã cũ, số IMEI 861516041395636, kèm sim số 0888616336; Tiền Việt Nam: 150.000 đồng.

Ngày 20/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột, cục màu trắng đã thu giữ của P. Tại bản Kết luận giám định số 1604/KL-KTHS ngày 22/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng được chứa bên trong gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có dòng kẻ, trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,155 gam, loại: Heroin”.

* Heroin (hay Heroine) là chất ma tuý nằm trong Danh mục IA, số thứ tự 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Hoàn trả lại 0,106 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Về nguồn gốc số ma tuý đã thu giữ khi bắt quả tang, Lê Tiến P khai nhận: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 10 giờ ngày 20/11/2022, Lê Tiến P từ nhà đi nhờ người qua đường đi xuống khu vực trung tâm thương mại Vincom thuộc phường Tiên Cát, thành phố V, tỉnh P để tìm mua ma tuý Heroine. Tại đây, P gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi được 01 gói ma tuý Heroien có đặc điểm được gói bằng giấy có mặt ngoài và mặt trong màu trắng có dòng kẻ với giá 500.000 đồng. Sau đó, P cầm gói ma tuý mua được ở bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng, khi P đi được một đoạn thì bị tổ công tác kiểm tra, lập biên bản và thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên.

Ngoài ra, P còn khai nhận ngày 18/11/2022, P mua 500.000 đồng ma tuý Heroine của một người đàn ông khoảng 30 tuổi ở khu vực nút giao IC7 thuộc xã Phượng Lâu, thành phố V và đã sử dụng hết cho bản thân. Ngày 20/11/2022, Cơ quan điều tra đã kiểm tra xét nghiệm ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với P, kết quả xét nghiệm dương tính, P có sử dụng ma tuý.

Về nguyên nhân, điều kiện động cơ mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Do bị cáo không có việc làm ổn định, lại sử dụng ma túy nên đã mua ma túy để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra, Lê Tiến P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Tiến P ngày 18/11/2022, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 245/QĐ-XPHC ngày 30/12/2022, hình thức xử phạt là cảnh cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho P tại khu vực trung tâm thương mại Vincom thuộc phường Tiên Cát, thành phố V, tỉnh P và người đàn ông đã bán ma tuý cho P tại nút giao IC7 thuộc xã Phượng Lâu, thành phố V, tỉnh P, do P không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của P, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được.

Về vật chứng, tài sản bị thu giữ, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đen đã cũ, số IMEI 861516041395636, kèm sim số 0888616336, đây là điện thoại di động của P dùng để liên lạc hàng ngày; 01 bì niêm phong số 1604/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa ma túy Heroine còn lại sau giám định và số tiền 150.000 đồng, đây là số tiền của P do lao động tích cóp mà có.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định bị cáo P không có việc làm, thu nhập ổn định, ngoài tài sản khi bị thu giữ và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị.

Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKS-VT ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P đã truy tố bị cáo Lê Tiến P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Tiến P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Tiến P từ 12 (Mười hai) tháng tù đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 20/11/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đen đã cũ, số IMEI 861516041395636 kèm 01 sim số 0888616336 và số tiền 150.000 đồng của bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong số 1604/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,106 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lê Tiến P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố V, tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung

- Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Tiến P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Hồi 11 giờ 00 Pt ngày 20/11/2022, tại tổ 17, phố Đoàn Kết, phường Tiên Cát, thành phố V, tỉnh P, Lê Tiến P đang tàng trữ trái phép khối lượng 0,155 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác - Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng. Trước đó ngày 18/11/2022, tại nút giao IC7 thuộc xã Phượng Lâu, thành phố V, tỉnh P Lê Tiến P mua của một người đàn ông không biết tên một gói ma tuý với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, P đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra không thu được ma tuý.

Lời khai nhận tội của bị cáo P phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Lê Tiến P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

- Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do mình gây ra.

- Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Tiến P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự vì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải. Bị cáo P còn có ông nội là Lê Công Mỹ là người có công với cách mạng và được tặng Bằng khen kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cho nên bị cáo được hưởng thêm tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, khi xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt sao cho phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định bị cáo P không có việc làm, thu nhập ổn định, ngoài tài sản khi bị thu giữ và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị ngoài 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đen đã cũ, số IMEI 861516041395636 kèm 01 sim số 0888616336 và số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) đang bị tạm giữ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại và số tiền trên của bị cáo là phù hợp

[4]. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 1604/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,106 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành.

[5]. Các vấn đề khác:

- Đối với hành vi mua ma tuý ngày 18/11/2022 của P, sau khi mua ma tuý P đã sử dụng hết, không thu giữ được ma tuý để giám định khối lượng. Do đó Công an thành phố V, tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo là phù hợp.

- Đối với 02 người đàn ông đã bán ma túy cho P, quá trình điều tra không xác định được, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là phù hợp.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[7]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt cũng như những nội dung khác là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

2. Tuyên bố bị cáo Lê Tiến P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Tiến P 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2022.

4. Về hình phạt bổ sung:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng đen đã cũ, số IMEI 861516041395636 kèm 01 sim số 0888616336. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/01/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P) và số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) (Theo Biên lai thu tiền số AA/2020/0007439 ngày 18/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P).

5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 1604/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh P hoàn trả sau giám định bên trong có chứa 0,106 gam ma túy Heroine. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/01/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh P)

6. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Tiến P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7. Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ