vanban.org

Bản án 08/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Thanh Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nông Thanh Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 07/9/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nông Thanh Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Thanh Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HSST
Ngày: 16/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Phương

2. Ông Lã Văn Luật

Thư ký phiên tòa: Bà Bàng Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2023/QĐXXST- HS ngày 05/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Thanh Đ, tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 8 năm 1981 tại thành phố Cao Bằng; HKTT và chỗ ở hiện nay: tổ 01, phường D, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Nông Đình C - sinh năm 1954; con bà: Dương Thị N - sinh năm 1954; Cùng trú tại: tổ 01, phường D, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vợ, con: Không có; Anh, chị, em ruột: có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 04/12/2020 bị Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về Tội trộm cắp tài sản.

Nhân thân:

- Ngày 18/9/2002 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

- Ngày 27/09/2002 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

- Ngày 22/3/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là thành phố Cao Bằng) xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 07/4/2014 bị Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Ngày 21/5/2014 bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 26/5/2014 bị Công an thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

- Ngày 18/01/2017 bị Công an phường Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng từ ngày 07/9/2022 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân sử dụng ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 07/9/2022, Nông Thanh Đ (Sinh ngày 15/8/1981; Trú tại: tổ 01, phường D, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) một mình đi bộ từ nhà thuộc tổ 01, phường D, thành phố Cao Bằng đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng thuộc phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Đ gặp và đưa cho một người đàn ông (không quen biết, dáng giống người nghiện) 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Người đàn ông đó nhận tiền rồi đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho Đ 02 (hai) gói nhỏ bên ngoài được gói bằng một lớp giấy bạc màu vàng. Đ cất 02 (hai) gói ma túy vào túi ngực bên trái chiếc áo đang mặc rồi đi bộ về nhà. Vào hồi 10 giờ 40 phút tổ công tác Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 14, phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng đã phát hiện và bắt quả tang đối tượng Nông Thanh Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 02 (hai) gói giấy bạc màu vàng bên trong mỗi gói đều chứa bột màu trắng dạng cục lẫn bột (Đ khai nhận là Heroine) có khối lượng 0,15g (không phẩy mười lăm gam) do Đ tự giác lấy trong túi ngực bên trái chiếc áo đang mặc mang ra giao nộp.

Hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, Công an phường Tân Giang thành phố Cao Bằng đã chuyển hồ sơ cùng đối tượng và vật chứng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 07/9/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 225 đối với vật chứng của vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 260/GĐMT ngày 14/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSTP ngày 21/12/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Thanh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với trọng lượng ma túy bị thu giữ và kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nông Thanh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân Nông Thanh Đ, sinh năm 1981; HKTT: tổ 01, phường D, thành phố Cao Bằng có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 07/9/2022.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.

Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập về hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 10 giờ 40 phút ngày 07/9/2022, tại tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng phát hiện, bắt quả tang Nông Thanh Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,15g (không phẩy mười lăm gam) ma túy loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện. Như vậy, hành vi của bị cáo Nông Thanh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Do đó cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Ngoài ra bị cáo đã nhiều lần bị công an xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy và nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để tự phấn đấu rèn luyện mình, cai nghiện ma túy để trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội chỉ vì ham chơi, đua đòi và thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nông Thanh Đ vừa chấp hành xong án phạt tù ngày 15/10/2021, tính đến ngày 07/9/2022 chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người không có ý thức tự cải tạo bản thân nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội và mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp, cần được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân Nông Thanh Đ, sinh năm 1981; HKTT: tổ 01, phường D, thành phố Cao Bằng có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 07/9/2022. Xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nông Thanh Đ khai nhận được mua với một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng vào ngày 07/9/2022. Tuy nhiên, việc trao đổi mua bán không có ai biết và chứng kiến nên không đủ căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa về tội danh, hình phạt là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Thanh Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nông Thanh Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 07/9/2022.

2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi tang vật cân Nông Thanh Đ, sinh năm 1981; HKTT: tổ 01, phường D, thành phố Cao Bằng có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 07/9/2022. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng. (Có kết luận giám định ma túy số 260/GĐMT ngày 14/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng).

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản bàn giao vật chứng số 32 ngày 23/12/2022.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Nông Thanh Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Tòa án tỉnh Cao Bằng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Công an tỉnh Cao Bằng;

- Sở tư pháp;

- Viện kiểm sát TP Cao Bằng;

- Công an TP Cao Bằng;

- Thi hành án DS TP Cao Bằng;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu án văn.

Nguyễn Thị Hanh

Cỡ chữ