- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08 /2023/HSST Ngày 11 tháng 01 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Tú
Bà Nguyễn Thị Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đức Minh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:
Bà Trương Thùy Linh - Kiểm sát viên
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 301/2022/ TLST - HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2022/QĐXXST – HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T, sinh năm: 2001; HKTT: Đội 1, xã T, huyện T, thành phố H; Nơi ở: Số 12A/140 phố N, phường H, quận T, Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Văn T, sinh năm : 1973; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1979; Họ tên vợ: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm : 2004; Có 01 con sinh năm 2022
Tiền án tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/08/2021; Hiện tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 27/8/2022, tổ công tác Công an phường M làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phát hiện Nguyễn Đức T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, mang BKS: 29E2 – 582.69 tại số 6 đường L, phường M, quận H, TP. Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 túi nilông màu trắng kích thước 4,5x7,5cm, bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu xanh và khai nhận là ma túy “kẹo” mang đi bán cho khách để kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật đồng thời đưa T cùng tang vật thu giữ về trụ sở công an phường M để giải quyết.
Tang vật thu giữ:
+ 01 túi nilong màu trắng kích thước 4,5x7,5cm, bên trong chứa 10 viên nén hình tròn màu xanh
+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen, BKS: 29E2 – 582.69, số khung: RLHJF5837KY610030, số máy: JF86E-0322770 đã qua sử dụng
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 màu vàng trắng, bên trong sử dụng sim điện thoại số 0968412830 đã qua sử dụng. Kiểm tra điện thoại có nội dung trao đổi mua bán ma túy.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức T tại số 12A/140 phố N, phường H, quận T, Hà Nội: không phát hiện, thu gì đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 6029/KLGĐ-PC09 ngày 05/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: 10 viên nén hình tròn màu xanh bên trong 01 túi nilông là ma túy loại MDMA, có tổng khối lượng 3,294 gam. (BL số: 29).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức T khai: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 27/8/2022, Toàn đang ở nhà tại 12A ngõ 140 phố N, phường H, quận T, Hà Nội thì nhận được điện thoại của Đức A (danh bạ là “C”, số điện thoại 0963436070) bảo đến khu vực ngã ba M – G, phường M, quận H, Hà Nội lấy 10 viên ma túy tổng hợp mang đi bán cho khách (SĐT: 0384654888) tại số 1 đường L, phường M, quận H Hà Nội, nếu bán thành công, Đức Anh sẽ trả cho Toàn 300.000 đồng. Toàn đồng ý và điều khiển xe máy BKS: 29E2-582.69 đến đầu ngõ G, phường M, quận H, Hà Nội gặp 01 người đàn ông không quen biết, đưa cho Toàn 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa 10 viên ma túy tổng hợp. Toàn nhận ma túy và giấu vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đến điểm hẹn giao bán ma túy. Khi T đến trước cửa số 06 đường L, phường M, quận H, Hà Nội thì bị kiểm tra, bắt giữ như nêu trên. Ngoài ra, Toàn còn khai trước đó khoảng 14 giờ 57 phút ngày 27/8/2022, “Đức A” gọi điện và bảo T đến ngõ G, phường M, quận H, Hà Nội lấy 05 viên ma túy “Kẹo” và đến khu vực T, quận H, Hà Nội gặp 01 người đàn ông (sử dụng số điện thoại 0986131551) lấy nửa chỉ ma túy Ketamine rồi mang đến cho khách sử dụng số điện thoại 0336232222 tại Tòa chung cư K, phường K, quận M, Hà Nội, Toàn đã giao bán thành công. (BL: 79 – 94)
Kiểm tra điện thoại của Nguyễn Đức T xác định: Vào chiều ngày 27/8/2022, có tin nhắn từ số điện thoại 0963436070 cho số điện thoại của Nguyễn Đức T liên quan đến việc đi nhận ma túy và mang đi giao bán cho khách. Rút list các số thuê bao có liên quan xác định có các cuộc gọi các số điện thoại 0963436070, 0986131551, 0336232222 với số điện thoại 0968412830 của Nguyễn Đức T, cuộc gọi giữa số điện thoại 0963436070 với số điện thoại 0986131551, phù hợp với lời khai của T.
Về đối tượng nam giới đưa ma túy cho Nguyễn Đức T, tiến hành rút list số điện thoại 0986131551 xác định chủ thuê bao là anh Lê Huy H (sinh năm: 1995, HKTT: Tổ 21 phố V, quận M, Hà Nội). Tại cơ quan điểu tra, Hoàng khai có sử dụng số điện thoại 0986131551 nhưng ngày 27/8/2022, Hoàng không đưa ma túy cho ai, không thực hiện hành vi liên quan đến ma túy. Hoàng không biết ai tên Nguyễn Đức T. Cơ quan điều tra đã cho Toàn nhận dạng Lê Huy H nhưng T và H đều không nhận dạng ra nhau nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác định Hoàng là người đưa ma túy cho Toàn và không đề cập xử lý.
Về đối tượng mà Nguyễn Đức T khai tên là “Đức A”: tiến hành rút list số điện thoại 0963436070, xác định chủ thuê bao là anh Lương Ngọc S (sinh năm: 2000, HKTT: 13/102 phố M, phường M, quận M, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, S khai không đăng ký sử dụng số điện thoại trên và cũng không quen biết ai tên Nguyễn Đức T, “Đức A”. Toàn không biết tên, tuổi, địa chỉ, chưa từng gặp Đức A nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng mua ma túy của Nguyễn Đức T: tiến hành rút list số điện thoại 0384654888: chủ thuê bao là anh Nguyễn Mạnh C (sinh năm: 1995, HKTT: Thôn N, Xã S, Huyện H, tỉnh L). Tại cơ quan điều tra, Cường khai có đăng ký sử dụng số điện thoại trên, đã sử dụng được 3 – 4 năm thì bị mất, nay không sử dụng số điện thoại trên và không biết ai sử dụng. C không quen biết ai tên Nguyễn Đức T, Lương Ngọc S, “Đức A”. Rút list số điện thoại 0336232222: chủ thuê bao là anh Vũ Bá N (sinh năm: 1989, HKTT: phường K, TP. V, tỉnh V). Qua xác minh tại địa chỉ trên: Vũ Bá Nhân có đăng ký hộ khẩu thường trú tuy nhiên không sinh sống tại đây, hiện không rõ ở đâu. Vì vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ đối với các đối tượng mua ma túy như Nguyễn Đức T đã khai.
Như vậy, căn cứ vào tài liệu điều tra thì ngoài hành vi bị bắt quả tang cùng tang vật thì Nguyễn Đức T còn tự thú, khai báo: Vào khoảng thời gian 14 giờ 57 phút ngày 27/8/2022, Toàn còn bán ma túy thành công cho khách gồm 05 viên ma túy “kẹo”, nửa chỉ ma túy Ketamine tại Tòa chung cư K, phường K, quận M, Hà Nội. Lời khai nhận tội của Toàn phù hợp với kết quả kiểm tra điện thoại có liên quan đến việc trao đổi mua bán ma túy; rút list các số điện thoại 0963436070, 0986131551, 0336232222, 0968412830 xác định thời gian cuộc gọi và cột sóng thể hiện hoàn toàn trùng khớp. Tiến hành dẫn giải T đều chỉ được các địa điểm giao bán ma túy. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, T đều giữ nguyên lời khai và đều khai nhận đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy, nên có căn cứ kết luận trong ngày 27/8/2022, Nguyễn Đức T đã thực hiện hành vi phạm tội 02 lần.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đen, BKS: 29E2-58269, số máy JF86E-0322770, số khung: RLHJF5837KY610030, qua xác minh: chủ đăng ký là anh Bùi Quang T (sinh năm: 1973; HKTT: Số 21 Dãy C – 3 Ngõ C, phường T, quận Đ, Hà Nội). Tại cơ quan điều tra, anh Tiến khai: Ngày 14/10/2019, anh Tiến mua chiếc xe máy trên và đăng ký chính chủ. Đến giữa năm 2020, anh T bán lại cho anh Vũ Bá T (sinh năm: 1991; HKTT: Số 100 phố B, phường C, quận H, Hà Nội) với giá 25.000.000 đồng. Anh Quang T không có ý kiến gì về chiếc xe máy trên. Tại cơ quan điều tra, anh Vũ Bá T khai phù hợp với lời khai của anh Quang T (anh Bá T xuất trình đầy đủ giấy chứng nhận đăng ký xe). Ngày 26/8/2022, anh Bá T cho T mượn xe để đi lại và không biết việc T sử dụng để thực hiện hành vi liên quan đến ma túy. Xét thấy không liên quan đến vụ án, ngày 24/11/2022, cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho anh Bá T. Sau khi nhận lại xe, anh Thắng không có ý kiến gì.
Bản Cáo trạng số 290/CT-VKS ngày 07/12/2022 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Nguyễn Đức T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s,r khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt Nguyễn Đức T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có: chứa 3,294 gam ma túy loại MDMA (PC 09 trích mẫu 0,657 gam, còn lại 2,637 gam), tại các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Nguyễn Đức T, giám định viên, người chứng kiến Nguyễn Trung T, cán bộ công an phường cùng dấu xác nhận của công an phường M;
Truy thu số tiền 300.000 đồng bị cáo hưởng lợi từ việc bán ma túy;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 màu vàng trắng, bên trong sử dụng sim điện thoại số 0968412830 đã qua sử dụng.
Nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, Viện Kiểm sát truy tố bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 27/8/2022, Nguyễn Đức T đang thực hiện hành vi bán trái phép 3,294 gam ma tuý loại MDMA thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại số 06 đường L, phường M, quận H, Hà Nội. Ngoài ra, Nguyễn Đức T còn tự thú khai khoảng 14 giờ 57 phút ngày 27/8/2022, Toàn đã bán thành công 05 viên ma túy, nửa chỉ ma túy Ketamine tại Tòa chung cư K, phường K, quận M, Hà Nội. Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm là đúng.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về tác hại của ma túy nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng, không bằng sức lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác nên cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự: phạm tội lần đầu, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự thú để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Biện pháp tư pháp: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có: chứa 3,294 gam ma túy loại MDMA (PC 09 trích mẫu 0,657 gam, còn lại 2,637 gam), tại các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Nguyễn Đức T, giám định viên , người chứng kiến Nguyễn Trung T, cán bộ công an phường cùng dấu xác nhận của công an phường M;
Truy thu số tiền 300.000 đồng bị cáo đã hưởng lợi;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 màu vàng trắng, bên trong sử dụng sim điện thoại số 0968412830 đã qua sử dụng.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 251; điểm s,r khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Đức T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/08/2021.
3. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có: chứa 3,294 gam ma túy loại MDMA (PC 09 trích mẫu 0,657 gam, còn lại 2,637 gam), tại các mép niêm phong có chữ ký của đương sự Nguyễn Đức T, giám định, người chứng kiến Nguyễn Trung T, cán bộ công an phường cùng dấu xác nhận của công an phường M;
Truy thu số tiền 300.000 đồng bị cáo đã hưởng lợi;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 màu vàng trắng, bên trong sử dụng sim điện thoại số 0968412830 đã qua sử dụng.
Vật chứng lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận ngày 21/12/2022.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - Công an quận Hoàn Kiếm; - CC Thi hành án DS quận Hoàn Kiếm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP/TA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Lệ Hằng |