vanban.org

Bản án 08/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt và tội danh:

Xử phạt Bị cáo Nguyễn Khắc K 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Khắc K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Khắc K phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt và tội danh:
  • Căn cứ chính? Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HSST
Ngày: 21/3/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bạch Đăng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Ngô Phiên.

2. Ông Trần Hải Đăng.

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Ước - Kiểm sát viên.

Ngày 21/3/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 09/3/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Khắc K; Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nam; Sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn GB, xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Chức vụ: Không có; Bố đẻ: Nguyễn Khắc S, sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1959; Vợ: Dương Thị H, sinh năm 1981; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2015; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Phạm Thị H (đã chết).

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Phạm Chí T, sinh năm 1955 (vắng mặt).

2. Bà Ngô Thị H, sinh năm 1958 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn CH, xã TC, huyện TD, tỉnh Bắc Ninh.

Đều ủy quyền cho anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn RC, xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

3. Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn RC, xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

4. Cháu Nguyễn Hữu L, sinh ngày 09/7/2005 (vắng mặt).

5. Cháu Nguyễn Quỳnh C, sinh năm 2013 (vắng mặt).

Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn RC, xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1984 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn RC, xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

2. Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt).

3. Chị Dương Thị B, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn NQ, xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

4. Chị Dương Thị H, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: Thôn GB, xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng: Bà Trần Thị H, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố TN, thị trấn BH, huyện YT, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Khắc K (có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 09/7/2021) là lái xe thuê cho anh Dương Ngọc H. Khoảng hơn 07 giờ ngày 02/7/2022, K điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-003.34 (trên xe không có hàng) đi đến Mỏ than Bố Hạ thuộc xã ĐH, huyện YT, tỉnh Bắc Giang. Khi đi đến ngã tư thị trấn Bố Hạ, đoạn giao nhau giữa tỉnh lộ 242 và tỉnh lộ 292, K bật xi nhan phải để rẽ vào tỉnh lộ 242. K nhìn thấy phía trước ngược chiều có một xe ô tô tải loại 3,5 tấn đang đi từ hướng xã ĐH đến nên K chỉ tập trung điều khiển xe ô tô để tránh xe ô tô trên mà không chú ý quan sát để giữ khoảng cách an toàn đối với các phương tiện đi phía trước cùng chiều với xe ô tô của K. Khi xe ô tô tải ngược chiều đang đi qua xe ô tô của K thì phần đầu xe ô tô bên phải do K điều khiển đã va chạm với phần đuôi xe mô tô biển kiểm soát 98M1-184.37 do chị Phạm Thị H điều khiển đi phía trước cùng chiều làm chị Phạm Thị H ngã ra đường, xe mô tô đổ nghiêng phải. Chị Phạm Thị H được người dân đưa đến Phòng khám đa khoa chất lượng cao Bố Hạ cấp cứu sau đó đã chết cùng ngày.

Sau khi tai nạn xảy ra, K đến Công an thị trấn Bố Hạ trình báo sự việc. Kết quả đo nồng độ cồn ngày 02/7/2022 đối với K là 0,000 mili gam/lít khí thở.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát 34C-003.34, 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 184.37; chất dịch màu nâu đỏ được niêm phong trong phong bì có ký hiệu là M1, 01 lồng chim bị bẹp, méo. Khám nghiệm tử thi thu giữ mẫu máu và quần áo của chị Phạm Thị H.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

- Đoạn đường xảy ra tai nạn là ngã 4, giao nhau cùng cấp giữa tỉnh lộ 242 và tỉnh lộ 292, có hai lối rẽ giao nhau với đường liên thôn và đường vào nhà dân, mặt đường trải nhựa áp phan, hướng đi xã ĐH, huyện Yên Thế có bề rộng mặt đường 8,2m. Điểm mốc được xác định là cột mốc Km 0, tỉnh lộ 242, lấy mép đường bên phải hướng từ LG đi xã ĐH làm chuẩn.

- Các dấu vết tại hiện trường:

+ Trên đường xe chạy phát hiện 01 xe ô tô biển kiểm soát 34C-003.34, màu sơn xanh, thùng sơn màu ghi, loại xe tải có 03 dàn bánh lốp đang đỗ ở tư thế đầu xe hướng về phía đường đi xã ĐH, đuôi xe quay chếch chéo hướng đi huyện LG. Đầu trục bên phải của bánh trước xe ô tô cách mép đường phải 4,3m; đầu trục 2 bên phải của ô tô cách mép đường phải 4,38m; đầu trục 3 bên phải của xe ô tô cách mép đường phải 4,6m.

+ Cách đầu trục 3 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 34C-003.34 chếch ra hướng ngã tư thị trấn Bố Hạ 1,2m là điểm đầu của vết cày xước mặt đường ký hiệu “1” có kích thước (0,21x0,01) m, điểm đầu và điểm cuối vết cày “1” lần lượt cách mép đường phải là 5,3m và 5,4m.

+ Cách điểm cuối vết cày ký hiệu “1” 1,21m là điểm đầu đám vết cày mặt đường ký hiệu “2” có kích thước (7,3x0,21) m. Điểm đầu và điểm cuối đám vết cày “2” cách mép đường phải lần lượt là 5,4m và 5,4m.

+ Cách đầu trục 1 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 34C-003.34 về phía gầm xe ô tô 1,5m là tâm của đám nhựa vỡ có kích thước (7,3x0,7) m. Tâm đám nhựa vỡ (ký hiệu “3”) cách mép đường bên phải là 5,2m.

+ Phía trước mặt lăn bên trái của trục 2 của xe ô tô biển kiểm soát 34C-003.34 phát hiện vết phanh lết (ký hiệu “4”) có kích thước (1,58x0,5) m, điểm đầu và điểm cuối của vết phanh lết lần lượt cách mép đường phải là 6,4m và 6,2m.

+ Phía dưới mặt lăn trục 1 bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 34C-003.34 phát hiện dấu vết lết và chất dịch màu nâu, đỏ, đen (ký hiệu “5”) có kích thước (4,44 x 0,34) m, điểm đầu của vết lết và chất dịch ký hiệu “5”, cách đầu trục 1 bên phải là 1,82m, cách mép đường bên phải 4,8m, điểm cuối cách mép đường phải 4,35m.

+ Điểm cuối của vết cày ký hiệu “2” là rìa bên phải để chân trước của xe mô tô biển kiểm soát 98M1-184.37 đang đổ nghiêng phải, đầu xe quay về hướng đi xã ĐH, đuôi xe quay về phía ô tô biển kiểm soát 34C-003.34, trục trước và trục sau xe mô tô lần lượt cách mép đường phải là 5,48m và 5,4m. Trục trước xe mô tô biển kiểm soát 98M1-184.37 cách cột mốc Km0 tỉnh lộ 242 là 9,35m, cách cột đèn tín hiệu giao thông ở lề đường bên phải hướng từ LG đi xã ĐH là 8,3m, tâm cột đèn cách mép đường phải là 1,75m.

+ Điểm cuối của vết phanh lết ký hiệu số “4” là tâm của lồng chim bị bẹp méo ký hiệu “6” có kích thước (1,07x0,7) m. Tâm của lồng chim cách mép đường bên phải là 6,6m. Mở rộng hiện trường không phát hiện dấu vết, đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

* Kết quả khám nghiệm tử thi chị Phạm Thị H:

- Vùng cằm: Có diện xây sát rách da bằng thịt kích thước (5x2)cm; Vai, ngực phải có diện bầm tím da kích thước (28x16) cm; Vùng ngực, bụng hai bên có diện mài sát, bầm tím da kích thước (43x31) cm; Cánh tay, cẳng tay phải được băng bằng băng y tế màu trắng, băng thấm dịch màu đỏ; Kiểm tra thấy tràn khí dưới da vùng ngực; Mặt trước ngoài mông, đùi phải có diện sưng nề, xây sát, bầm tím da kích thước (37x21) cm; Mặt trước gối phải có diện bầm tím da kích thước (8x4)cm; Mặt trong bàn chân phải có diện xây sát da bầm tím, kích thước (12x4)cm; Mặt trước ngoài mông, đùi, gối trái có diện sưng nề xây sát bầm tím da kích thước (47x23)cm; Mặt sau mông, thắt lưng trái có diện mài sát, dập, rách da để lộ tổ chức dưới da cơ, xương. Sờ nắn thấy gãy phức tạp xương cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay phải; Gãy phức tạp xương lồng ngực hai bên xương ức, chọc hút bằng bơm, kim tiêm thấy khoang lồng ngực hai bên trong ổ bụng có máu không đông.

- Mổ tử thi: Kiểm tra tổn thương rập rách da mông và thắt lưng trái thấy: Bầm dập tổ chức dưới da cơ, mạch máu xung quanh tổn thương phức tạp ở nhiều vị trí, qua vị trí tổn thương máu đỏ vẫn chảy ra.

- Kiểm tra quần áo của tử thi thấy: Áo phông cộc tay màu đỏ, cam, trắng, áo rách thủng vải ở nhiều vị trí, bờ mép nham nhở bám dính chất màu đen, máu và tổ chức cơ thể. Quần vải dài màu đen, rách, thủng vải ở nhiều vị trí, bờ mép nham nhở, bám dính máu, tổ chức cơ thể (Quần, áo đã được cắt trong quá trình cấp cứu).

* Kết quả khám xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 184.37:

- Tại vị trí phần cong tay gương chiếu hậu bên phải có vết mài sát sơn kim loại diện (3x1) cm, bám dính tạp chất màu trắng, ốp gương có vết mài sát nhựa trên diện (12x3,5) cm;

- Ốp bảo vệ đầu xe phía trước bên phải, tại vị trí chân gương có vết trượt xước, nứt vỡ bóng kính, sơn, nhựa trên diện (9,5x4) cm;

- Mặt ngoài phía trước đầu tay nắm bên phải có vết mài sát sơn kim loại trên diện (1,5x1) cm;

- Đầu tay phanh bên phải có vết mài sát kim loại trên diện (2x1,5) cm trên bề mặt bám dính tạp chất màu trắng;

- Mặt ngoài phía trước chốt tay phanh bên phải có vết mài sát lõm kim loại trên diện (1,5x1) cm;

- Khung bảo vệ bên phải xe cong vênh theo chiều từ ngoài vào trong, mặt ngoài có dấu vết trượt xước từ đầu đến cuối khung bảo vệ trên bề mặt bám dính tạp chất màu trắng;

- Mặt ngoài phía trước ốp bảo vệ, chắn bùn phía trước có vết mài sát kim loại trên diện (2,5x2) cm trên bề mặt bám dính tạp chất màu trắng;

- Tại vị trí để chân phía sau bên phải có vết mài sát nhựa, kim loại trên diện (16,5x4) cm chiều hướng từ trước ra sau trên bề mặt bám dính tạp chất màu trắng;

- Ốp xườn xe và tay xách xe bên phải có vết mài sát bóng kính, sơn, nhựa, kim loại trên diện (65x7) cm trên bề mặt có bám dính tạp chất màu trắng;

- Ốp bảo vệ ống xả có vết trượt xước kim loại trên diện (25x4,5) cm trên bề mặt bám dính tạp chất màu đen trắng;

- Tay xách xe bên trái có vết xước sơn, kim loại trên diện (24,5x2) cm trên bề mặt có bám dính tạp chất màu đen dạng cao xu, phía sau bị gãy khuyết;

- Ốp bảo vệ đèn xi nhan bên trái và đèn hậu bị vỡ khuyết nhựa trên diện (22x10) cm trên bề mặt bám dính tạp chất màu đen dạng cao su;

- Phía sau khung bảo vệ bên trái bị cong vênh theo chiều từ trái qua phải, khung bảo vệ xe bên trái tại vị trí để chân bị bẹp méo theo chiều từ trái qua phải, để chân phía sau bên trái bị gãy khuyết;

- Tại vị trí mặt ngoài để chân bên trái và khung bảo vệ xe bên trái có vết xước sơn, nhựa, kim loại trên diện (20x22) cm trên bề mặt bám dính tạp chất màu đen dạng cao su;

- Dưới gầm xe từ vị trí chân chống chính đến đầu xe có vết trượt xước sơn, kim loại, nhựa sạch bụi bẩn trên diện (80x32) cm;

- Tại vị trí cần gạt chân chống chính có vết trượt xước sơn kim loại trên diện (11x4) cm;

- Mặt ngoài phía sau hộp bảo vệ dây cô loa có vết trượt xước lõm loại trên diện (2x2) cm trên bề mặt bám dính tạp chất màu đen. Hệ thống điều khiển, hệ thống hãm, đèn còi hoạt động bình thường.

* Kết quả khám xe ô tô biển kiểm soát 34C-003.34:

- Tại vị trí ba đờ sốc bên phải cách đất 1m có dấu vết trượt xước sơn sạch bụi đất trên diện (22x6) cm theo chiều từ trước ra sau, từ trái qua phải;

- Tại vị trí mặt dưới giá đỡ téc nước có dấu vết trượt xước sơn, kim loại trên diện (30x10,5) cm, chiều từ trước ra sau, từ phải qua trái;

- Mặt dưới bên phải đáy cát te có vết trượt xước kim loại trên diện (21x6) cm, chiều từ trước ra sau;

- Mặt dưới nhíp bên phải phía trước có vết trượt xước kim loại trên diện (48x9) cm chiều hướng từ trước ra sau;

- Mặt trước phía dưới bên phải dí trước xe có vết trượt xước kim loại sạch bụi đất trên diện (36x5) cm;

- Tại vị trí mặt trong lốp xe bánh trước bên phải có vết mài xước cao su trên diện (67x4) cm. Hệ thống điều khiển, đèn, còi, lốp, gương và hệ thống khác hoạt động bình thường.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1325/KL-KTHS ngày 02/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của Phạm Thị H do đa chấn thương: Chấn thương ngực - bụng kín, gãy xương chi trên bên phải.

- Cơ chế hình thành thương tích: “Các tổn thương bầm tím, sây sát, mài sát, dập rách da hình thành do vật tày có diện tiếp xúc và hình dạng khác nhau, theo nhiều chiều hướng tạo nên. Tổn thương gãy phức tạp xương lồng ngực, xương chi trên bên phải do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên”.

Tại Bản kết luận giám định số: 1497/KL-KTHS ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

1. Dấu vết mài trượt sơn, sạch bụi đất, in hằn các đường song song chạy ngang, hướng từ trái sang phải (dạng vân bao tơ dứa) ở mặt ngoài bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô biển số 34C-003.34 phù hợp với dấu vết trượt, bám dính bụi đất ở mặt ngoài cạnh thành vỏ bao cuốn phía ngoài lồng kim loại (gắn lồng kim loại lên xe mô tô biển số 98M1 - 184.37), dấu vết va chạm phù hợp khi đặt mặt gỗ ở trên, dấu vết trượt ở cạnh thành sau bên trái.

- Dấu vết lõm, trượt xước sơn, kim loại, dính chất màu đen (dạng sơn) hướng từ trước ra sau ở mặt dưới thanh kim loại gắn két nước dưới gầm đầu xe ô tô biển số 34C - 003.34 phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, mất sơn ở mặt ngoài bên trái chân chống giữa của xe mô tô biển số 98M1-184.37.

- Dấu vết mài trượt cao su sạch bụi đất ở mặt trong má lốp thứ nhất bên phải của xe ô tô biển số 34C - 003.34 phù hợp với dấu vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài bên trái tay xách của xe mô tô biển số 98M1 - 184.37.

2. Dấu vết trượt xước sơn, nhựa, kim loại ở bên phải của xe mô tô biển số 98M1 - 184.37 gồm: Tay nắm, tay phanh, gương chiếu hậu, để chân trước, để chân sau, ốp sườn được hình thành do tiếp xúc, mài trượt trên bề mặt vật tày cứng, không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô biển số 98M1 - 184.37 đổ nghiêng phải, rê trượt, vị trí các dấu vết trên tiếp xúc với mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu 1, số 2.

- Dấu vết mài trượt mặt đường, dính chất mầu nâu đỏ (dạng tổ chức mô cơ thể) ký hiệu số 5 phù hợp với quá trình va chạm, lốp bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 34C-003.34 chèn đè đẩy trượt cơ thể người (nạn nhân Phạm Thị H) trên mặt đường tạo nên.

3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 34C - 003.34 và xe mô tô biển số 98M1-184.37 trên mặt đường, tại ngay trước điểm đầu dấu vết trượt xước ký hiệu số 1 và số 2, trong khu vực giao nhau giữa đường tỉnh lộ 292 và đường tỉnh lộ 242.

4. Căn cứ các dấu vết trên hiện trường, phương tiện xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn hai phương tiện trong tư thế chuyển động đứng, cùng chiều (xe mô tô biển số 98M1-184.37 ở phía trước bên phải đầu xe ô tô 34C - 003.34).

5. Ngoài các dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 34C - 003.34 với xe mô tô biển số 98M1 - 184.37, trên hai phương tiện không thấy dấu vết va chạm với các phương tiện khác.

6. Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 34C - 003.34 và xe mô tô biển số 98M1 - 184.37 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Tại Bản kết luận giám định số 1254/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Mẫu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1” gửi giám định có máu người, nhóm máu O.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 345/345/460-461/22/ĐC ngày 12/7/2022 của Viện Pháp y Quốc gia kết luận: Không tìm thấy các chất độc trong mẫu máu của Phạm Thị H và Nguyễn Khắc K.

Tại Bản kết luận giám định số: 1584/KL-KTHS ngày 12/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video dung lượng 29,4MB; thời lượng 02 phút 22 giây gửi giám định.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Thế kết luận: Chi phí sửa chữa tài sản 01(một) xe ô tô biển số 34C-003.34 nhãn hiệu DONGFENG là 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), Bao gồm: Ba đờ sốc bên phải; Mặt dưới giá đỡ két nước; Mặt dưới bên phải đáy cát te; Mặt dưới nhíp bên phải phía trước; Mặt trước phía dưới bên phải dí trước xe; Mặt trong lốp xe bánh trước bên phải. Chi phí thay thế, sửa chữa 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 184.37, nhãn hiệu HONDA, số loại LEAD là 950.000đ (Chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Kết quả thu giữ hình ảnh camera an ninh của nhà chị Nguyễn Thị H: Hình ảnh camera cho thấy xe mô tô do chị Phạm Thị H điều khiển đi trước xe ô tô do Nguyễn Khắc K điều khiển.

Quá trình điều tra, K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tiến hành thực nghiệm điều tra khả năng quan sát của K, kết quả K có thể quan sát được toàn bộ xe mô tô và người lái xe qua kính lái phía trước xe ô tô của K ở vị trí cách đầu xe ô tô khoảng 2m đến 3m.

Cáo trạng số 05/CT-VKS-YT ngày 16/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Nguyễn Khắc K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc K từ 12 đến 16 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 32 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự trả lại Nguyễn Khắc K 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Bị cáo K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Yên Thế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc anh Nguyễn Hữu K, anh Dương Ngọc H, chị Dương Thị H, bà Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng anh K, anh H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị B, bà H đã có ý kiến lưu trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người trên.

Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Khoảng hơn 7 giờ ngày 02/7/2022, tại ngã tư đoạn giao nhau giữa tỉnh lộ 242 và tỉnh lộ 292 thuộc tổ dân phố Thống Nhất, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Khắc K (có giấy phép lái xe ô tô hạng C) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 34C-003.34 không chú ý quan sát phía trước bên phải, không giữ khoảng cách an toàn với xe mô tô biển kiểm soát 98M1-184.37 do chị Phạm Thị H điều khiển đi bên phải phía trước cùng chiều nên phần đầu xe ô tô bên phải do K điều khiển đã đâm vào phía sau đuôi xe mô tô của chị Phạm Thị H. Hậu quả làm chị Phạm Thị H chết, gây hư hỏng hai phương tiện tổng giá trị 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về không gian, thời gian, địa điểm xảy ra vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ (quy định về khoảng cách an toàn giữa hai xe tham gia giao thông trên đường) dẫn đến hậu quả khiến chị H bị chết, hư hại tài sản trị giá 1.750.000 đồng (Một triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng). Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Nguyễn Khắc K đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 05/CT-VKS-YT ngày 16/02/2023 truy tố đối với bị cáo K là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, nghề nghiệp là lái xe, gia đình bị cáo còn có 03 con nhỏ đang tuổi ăn học, lỗi của bị cáo là vô ý nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

Về tính chất, mức độ của hành vi:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tính mạng, tài sản cho bị hại, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, lỗi trong vụ án hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả, có thời gian tham gia nghĩa vụ Quân sự, đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo K đã bồi thường cho anh K (là người đại diện hợp pháp của chị Phạm Thị H) tổng là 260.000.000 đồng, trong đó tiền của K là 160.000.000 đồng, tiền của anh H hỗ trợ K 100.000.000 đồng, anh K không yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh H không yêu cầu K phải trả lại số tiền đã hỗ trợ nêu trên nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với thiệt hại hư hỏng xe ô tô biển kiểm soát 34C- 003.34, xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 184.37 và lồng chim đã cũ bị bẹp méo, anh H, anh K không yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 240130001504 là của bị cáo K, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 34C- 003.34 là của gia đình anh Dương Ngọc H và chị Dương Thị B mua lại của Công ty TNHH thương mại và xây dựng Nam Trung từ năm 2014 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đăng ký xe. Anh H thuê K lái và giao xe cho K từ tháng 01/2022 (có hợp đồng lao động). Kết quả xác minh: Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 34C- 003.34 đã hết thời hạn kiểm định từ tháng 5/2014, xe chưa làm thủ tục sang tên đăng ký xe. Ngày 18/10/2022, Cơ quan điều tra đã chuyển giấy chứng nhận kiểm định số 0321936 và có văn bản đề nghị Đội CSGT Công an huyện Yên Thế xử lý hành vi vi phạm hành chính của anh H là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo K xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe vẫn hoạt động bình thường, đảm bảo an toàn kỹ thuật. Nguyên nhân gây tai nạn là do bị cáo không chú ý quan sát các phương tiện đi phía trước cùng chiều để giữ khoảng cách an toàn nên đã xảy ra va chạm dẫn đến chị Phạm Thị H tử vong. Vụ tai nạn không phải do lỗi an toàn kỹ thuật của xe ô tô nên không có căn cứ xử lý đối với anh H và bị cáo K về tội "Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không đảm bảo an toàn".

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; Điều 50 của Bộ luật hình sự; Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

1. Về hình phạt và tội danh:

Xử phạt Bị cáo Nguyễn Khắc K 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/3/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Khắc K.

Giao bị cáo Nguyễn Khắc K cho Ủy ban nhân dân xã ĐM, huyện LG, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại Nguyễn Khắc K 01 (một) giấy phép lái xe hạng C, số 240130001504 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang cấp ngày 09/7/2021, họ và tên: Nguyễn Khắc K, sinh ngày 10/3/1980, địa chỉ: ĐM, LG, Bắc Giang có giá trị đến ngày 09/7/2026.

3. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Khắc K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ