vanban.org

Bản án 08/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Tuyên án 09/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Pờ Xê B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Pờ Xê B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, từ ngày 02/6/2023 đến ngày 11/6/2023. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pờ Xê B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Pờ Xê B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HSST
Ngày: 09/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Đại, Ông Bùi Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn- Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Pờ Xê B, tên gọi khác: Không, sinh năm 2003, tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: P, xã M, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 4/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Pờ Khừ G, sinh năm 1970 và con bà: Thàng Mò N, sinh năm 1968; Bị cáo có chồng Phản Hà Đ, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Nghiện chất ma túy; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/6/2023 đến ngày 11/6/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 01/6/2023, tại một khe suối gần cầu Nậm Pặm, thuộc bản Pắc Ma, xã Mường Tè, huyện Mường Tè, Pờ Xê B đã gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc La Hủ lạ mặt 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng nilon màu xanh với giá 200.000 đồng để đem về sử dụng. Sau khi mua được Heroine, B đi về nhà rồi đem gói Heroine đã mua được cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc trên người và không nói cho ai biết.

Khoảng 08 giờ ngày 02/6/2023, sau khi ngủ dậy, thấy không có ai ở nhà, B lấy một ít Heroine từ gói Heroine đã mua được trước đó đặt lên trên một mảnh kính màu trắng để chuẩn bị sử dụng. Số Heroine còn lại, B gói lại như cũ và cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc trên người. Sau đó, B dùng một mảnh lưỡi dao lam và một chiếc bật lửa ga màu đỏ nghiền nhỏ số Heroine trên mảnh kính để sử dụng nhưng B chỉ sử dụng hết một phần, phần Heroine còn lại B vẫn để trên mảnh kính đặt trên nền nhà. Đến hồi 08 giờ 30 phút cùng ngày, B tiếp tục chuẩn bị sử dụng số Heroine còn lại trên mảnh kính thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Tè phát hiện quả tang. Quá trình bắt quả tang, tổ công tác thu giữ của Pờ Xê B 01 gói Heroine mà B đang cất giấu trong túi quần, 01 mảnh kính màu trắng, 01 mảnh dao lam, 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ. Ngoài ra, tổ công tác còn dùng 01 mảnh nilon màu xanh thu gom số Heroine trên mảnh kính mà B đã nghiền nhỏ nhưng chưa sử dụng hết. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định tư pháp số 76 ngày 02/6/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện Mường Tè, đã kết luận: 02 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Pờ Xê B có tổng khối lượng là 0,44 gam.

Tại bản kết luận giám định số 654 ngày 05/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Pờ Xê B gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine.

Tại bản cáo trạng số 115/CT- VKS-MT ngày 01/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Pờ Xê B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Pờ Xê B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Pờ Xê B từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 10 tháng tù, đề nghị áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh kính màu trắng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh dao lam; 01 mảnh giấy bạc màu trắng.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát không bổ sung gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 02/6/2023, tại nhà ở của mình ở bản P, xã M, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Pờ Xê B đang tàng trữ trái phép 0,44 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Tè phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Do đó hành vi của bị cáo Pờ Xê B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Pờ Xê B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản đảm bảo thi hành án và không đảm nhận chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Pờ Xê B mua của người đàn ông không biết địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,44 gam Heroine đã gửi giám định toàn bộ nên không đề cập giải quyết. Vật chứng còn lại 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh kính màu trắng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 mảnh dao lam. Tất cả đều không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Pờ Xê B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Pờ Xê B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo được khấu trừ thời hạn tạm giữ 09 (chín) ngày, từ ngày 02/6/2023 đến ngày 11/6/2023. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh kính màu trắng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh dao lam; 01 mảnh giấy bạc màu trắng.

(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mường Tè và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 16/10/2023).

3. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ