vanban.org

Bản án 08/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 01/02/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/02/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Thị G.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Kiên Giang. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Thị G phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Thị G.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-PT
Ngày: 01 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Ngọc Hồng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Quang

Ông Vũ Thế Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Quý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 238/2022/TLPT-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Hồ Thị G, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2022/HS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Hồ Thị G, sinh năm 1986 tại M, Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nơi cư trú: ấp A, xã Đ, huyện M, Kiên Giang; Nghề nghiệp mua bán; trình độ văn hóa 9/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; con ông Hồ Văn S và bà Lê Thị U; chồng Nguyễn Thanh S1 (đã ly hôn) và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 22/12/2021, tại ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Kiên Giang. Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Kiên Giang bắt quả tang tụ điểm đánh bạc trái phép ăn tiền bằng hình thức đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền, tại nhà bà Trần Thị Bé N. Các đối tượng bị bắt quả tang gồm: Trần Thị Bé N, Phạm Thị T, Phạm Thị L và Nguyễn Thị T1. Quá trình bắt quả tang có tạm giữ của Phạm Thị T 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu Samsung Galaxy A02S, qua kiểm tra điện thoại phát hiện có một số tin nhắn thể hiện việc Phạm Thị T mua số đề của Hồ Thị G. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Thị T và Hồ Thị G thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán số đề.

Hồ Thị G khai nhận: Bắt đầu bán số đề được khoảng 02 tháng (tính đến ngày bị bắt) và chỉ bán cho một mình Phạm Thị T. Hình thức bán dựa vào kết quả xổ số kiến thiết các đài Miền Nam và đài hà Nội hàng ngày để bán số đầu và số lô, mức độ thắng thua là mua 1.000 đồng trúng 80.000 đồng, G và T trực tiếp ăn thua với nhau chứ không nộp phơi cho ai, cả hai thỏa thuận cộng dồn số tiền thắng thua rồi ghi nợ với nhau chứ không có chung tiền mặt.

Qua kiểm tra dữ liệu điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02S đã thu giữ, có tin nhắn thể hiện việc mua bán số đề giữa G và T trong ngày 22/12/2022 như sau:

- Lúc 15 giờ 24 phút ngày 22/12/2021, bà T nhắn tin cho G mua số lô 29 các đài xổ số Miền Nam (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng), mỗi đài mua với số tiền là 100.000 đồng (100.000đ x 3 x 14 lô = 4.200.000đ). Sau khi đọc tin nhắn G đồng ý bán cho bà T nên nhắn tin trả lời “Ok” vào lúc 15 giờ 25 phút. Đối chiếu với kết quả mở thưởng thì bà T không trúng thưởng.

- Đến 17 giờ 46 phút cùng ngày, bà T tiếp tục nhắn tin qua zalo cho G mua số lô 68 đài Hà Nội với số tiền là 200.000đ (200.000đ x 1 x 23 lô = 4.600.000đ). Đối chiếu với kết quả mở thưởng thì con số của bà T mua trúng thưởng với số tiền là 200.000đ x 80 lần = 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng). Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, biết bà T trúng thưởng nên G nhắn tin cho bà T hay. Số tiền bà T trúng thưởng trừ cấn số tiền bà T mua số còn nợ lại bị can G.

Như vậy, tổng số tiền Hồ Thị G và Phạm Thị T đánh bạc đài Hà Nội trong ngày 22/12/2021 là 20.600.000đ (Hai mươi triệu sáu trăm nghìn đồng).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã thu giữ vật chứng: 01 (Một) chiếc điện thoại cảm ứng Samsung, màu xanh đen, màn hình bị hư hỏng, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếc điện thoại cảm ứng Samsung galaxy A02s, màu xanh đen, đã qua sử dụng.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2022/HS-ST ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thị G 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thị G số tiền 10.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, báo quyền kháng cáo theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/10/2022 bị cáo Hồ Thị G kháng cáo xin hưởng phạt tiền và án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng tội và xin xem xét kháng cáo của bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm giải quyết vu ̣ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng, cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 03 tháng tù là phù hợp. Do đó, đề nghi ̣ Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tinh hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét đơn kháng cáo của bi ̣ cáo về

́ nô ̣i dung, quyền kháng cáo, thủ tu ̣c kháng cáo và thờ i ha ̣n kháng cáo đa đũ ́ng quy đi ̣nh ta ̣i các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhâ ̣n xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bi ̣ cáo theo trinh tự phúc thẩm.

̀

Về quyết định của bản án sơ thẩm:

Vào 15 giờ 24 phút ngày 22/12/2021, Phạm Thị T nhắn tin cho Hồ Thị G mua số lô 29 các đài xổ số Miền Nam (Đồng Nai, Cần Thơ, Sóc Trăng), với số tiền 4.200.000 đồng, đối chiếu với kết quả mở thưởng thì T không trúng thưởng. Đến 17 giờ 46 phút cùng ngày, Hồ Thị G tiếp tục bán số đề cho Phạm Thị T đài Hà Nội với tổng số tiền là 4.600.000 đồng, đối chiếu với kết quả mở thưởng thì T trúng thưởng với số tiền là 16.000.000đ đồng. Như vậy, tổng số tiền Hồ Thị G và Phạm Thị T đánh bạc trong ngày 22/12/2021 là 20.600.000đ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Riêng hành vi của Phạm Thị T bị điều tra, truy tố xét xử trong một vụ án khác.

Xét kháng cáo của bị cáo:

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, từ đó áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 03 tháng tù dưới khung hình phạt là đã có chiếu cố, không nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo. Mặt khác, để phòng ngừa và răn đe đối với loại tội phạm này đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm là 200.000 đồng.

Các quyết đi ̣nh khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bi ̣ kháng nghi ̣ đa cõ ́ hiê ̣u lực pháp luâ ̣t kể từ ngày hết ha ̣n kháng cáo, kháng nghi ̣.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Thị G.

- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Kiên Giang.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Thị G – 03 (Ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 và Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thị G số tiền 10.000.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 10.000.000 đồng bị cáo nộp theo Biên lai thu tiền số 0003952 ngày 31/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo đã nộp xong.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Các quyết đi ̣nh khác của Bản án số: 57/2022/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Kiên Giang, không có kháng cáo, không bi ̣ kháng nghi ̣ đa cõ ́ hiê ̣u lực pháp luâ ̣t kể từ ngày hết thời ha ̣n kháng cáo, kháng nghi ̣.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ