- Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh T và Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày: 06 – 02 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Minh Tấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Đèo –Thư ký Toà án nhân dân thị xã G
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G tham gia phiên toà: bà Võ Thị
Hồng Mộng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2022/HS-ST, ngày 05 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Lê Thanh T, sinh năm 1992; nơi sinh: Bạc Liêu; nơi cư trú: ấp 2, xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Hứa Thị X; tiền án: không; tiền sự: 01 lần, vào ngày 25 tháng 01 năm 2022 bị Công an xã Phong Thạnh T xử phạt hình chính về hành vi đánh bạc trái phép. (Có mặt)
2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983; nơi sinh: Bạc Liêu; nơi cư trú: ấp 2, xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H; có vợ và 01 con; tiền án: không; tiền sự: 01 lần, vào ngày 25 tháng 01 năm 2022 bị Công an xã Phong Thạnh T xử phạt hình chính về hành vi đánh bạc trái phép. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp 3, xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
2. Ông Tạ Tấn T, sinh năm 2001; nơi cư trú: ấp 2, xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp 2, xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
4. Ông Lê Văn T, sinh năm 1957; nơi cư trú: ấp 2, xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
5. Bà Võ Thị P, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp 2, xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
6. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1951; nơi cư trú: ấp 2, xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 50 ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại nhà bà Nguyễn Thị N, Công an xã Phong Thạnh T bắt quả tang các đối tượng tham gia đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc bầu cua ăn tiền, gồm các đối tượng: Lê Thanh T, Nguyễn Văn Đ, Phạm Văn H, Tạ Tấn T, Nguyễn Văn Đ, Lê Văn T và Võ Thị P.
Thu giữ: 01 bộ lắc bầu cua, 01 đĩa kim loại, 01 thau kim loại, 01 tấm chiếu, tiền trên chiếu bạc 20.000đ; trên người các đối tượng với số tiền cụ thể là: Bị cáo Đ 80.000đ, Lê Văn T 329.000đ, Phan Văn Hoàng 301.000đ, Tạ Tấn T 10.000đ, Nguyễn Văn Đ 20.000đ.
Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKS-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã G đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thị xã G để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với các bị cáo Lê Thanh T và Nguyễn Văn Đ về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G giữ nguyên quyết định truy tố và đề xuất áp dụng như sau: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
+ Đối với vật chứng: tịch thu sung quỹ 760.000đ; tiêu hủy: 01 bộ lắc bầu cua, 01 đĩa kim loại, 01 thau kim loại, 01 tấm chiếu.
- Ý kiến của các bị cáo: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin hưởng khoan hồng của pháp luật và hứa không tiếp tục tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên toà các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 50 ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại nhà bà Nguyễn Thị N, các bị cáo Tùng và Đầy cùng với các đối tượng khác tham gia gia đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc bầu cua ăn tiền thì bị bắt quả tang.
Mặc dù số tiền mà các bị cáo tham gia đánh bạc dưới 5.000.000đ nhưng vào ngày 25 tháng 01 năm 2022 bị Công an xã Phong Thạnh T xử phạt hình chính về hành vi đánh bạc trái phép nên các bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được luật hình sự bảo vệ nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện.
Các bị cáo nhân thân tốt và có nhiều tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự như: mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo Đ có cha là ông Nguyễn Văn Đ, đã có nhiều thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và được tặng thưởng huân chương kháng chiến hàng nhì; bị cáo Lê Thanh T có ông nội là ông Lê Văn N, đã có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được huân chương kháng chiến hàng ba và được cấp giấy chứng nhận gia đình Liệt Sĩ, trong đó có cha của bị cáo là ông Lê Văn T đang được hưởng các chế độ ưu đãi gia đình Liệt sĩ, hiện nay bị cáo và cha của bị cáo đang thờ cúng ông Lê Văn N.
Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo, cho nên việc áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát và giáo dục sẽ không gây ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm và hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3 của Bộ luật hình sự, đó là “Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục”. Từ đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G.
Về vật chứng vụ án sẽ được xử lý như sau:
+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 760.000đ, vì đây là số tiền mà các bị cáo và các đối tượng khác sử dụng vào việc đánh bạc.
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 bộ lắc bầu cua, 01 đĩa kim loại, 01 thau kim loại, 01 tấm chiếu. Vì đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
Các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật.
Mổi bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm 200.000đ
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh T và Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Đánh bạc”
2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời gian thử thách được tính kể từ ngày tuyên án (ngày 06 tháng 02 năm 2023).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời gian thử thách được tính kể từ ngày tuyên án (ngày 06 tháng 02 năm 2023).
- Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phong Thạnh T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.
3. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của của Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 760.000đ theo biên lai thu tiền số 0001378 ngày 01 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 bộ lắc bầu cua, 01 đĩa kim loại, 01 thau kim loại, 01 tấm chiếu (có khổ 1m6 x 2m). Do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G đang tạm giữ và quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 10 năm 2022.
4. Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc mỗi bị cáo phải chịu nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
5. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Giao bị cáo; - Giao bị hại; - Giao người bào chữa (nếu có); - Giao Viện kiểm sát cùng cấp; - Gửi Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; - Gửi Cơ quan điều tra cùng cấp; - Gửi Cơ quan thi hành án hình sự - Trại tạm giam nơi bị cáo giam giữ (nếu có); - Lưu hồ sơ và văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |