- Tranh chấp gì? án hình sự — "Điều 251 Mua bán trái phất chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày: 27-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đồng Tịnh
Bà Vũ Thị Lệ Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Võ Ngọc Tín - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo.
ĐẶNG THỊ H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/02/1995 tại Đà Nẵng; nơi HKTT: Tổ 89, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở: Số 30 Phó Đức C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng B, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị C (chết), gia đình có tám anh em, bị cáo là con út;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/10/2022; có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Đặng Thị H có Luật sư Võ Văn T -Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Đà Nẵng; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Diễm H, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ 2B, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 17 giờ 30 phút ngày 07/10/2022, Phòng CSĐT tội phạm về ma tuý Công an thành phố Đà Nẵng phối hợp với công an phường A, quận S tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ số 13, căn nhà số 30 Phó Đức C, quận S thì phát hiện trong phòng có Đặng Thị H, Trần Thị Diễm H đang lưu trú, tiếp tục kiểm tra phát hiện tại kệ nhựa sát bờ tường phòng vệ sinh có 01 gói nylong không rõ hình dạng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng và 01 gói nylong nhỏ. H khai nhận đây là ma tuý loại đá H đã mua trước đó của đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) để đem về bán lại cho con nghiện kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Tang vật thu giữ:
- 01 gói nylong không rõ hình dạng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng và 01 gói nylong nhỏ (niêm phong ký hiệu A);
- 01 bộ dụng cụ gồm 01 chai nhựa có nắp trắng gắn 01 ống hút nhựa màu đen và 01 nỏ thủy tinh;
- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia màu đen.
Tại Kết luận giám định số: 213/KLMT-KTHS ngày 13/10/2022 của Phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng xác định: Tinh thể rắn màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,831 gam.
Qua điều tra xác định: Tối ngày 06/10/2022, Đặng Thị H liên hệ với tượng tên “T” để mua 800.000 đồng ma túy thì được người này đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực Ngô Q – Nguyễn Công T. Sau khi mua được ma túy từ đối tượng T, H mang về phòng trọ số 13 để cất giấu nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ ngày 07/10/2022, có đối tượng tên B (không rõ nhân thân lai lịch) là bạn của H đến phòng trọ của H chơi, H có kể cho B nghe về việc H có ma túy nên B xin H một ít thì H đồng ý và cho B. Sau khi B về, H lấy một ít ma túy và sử dụng một mình tại phòng trọ. Số ma túy còn lại, H cất giấu tại kệ nhựa sát bờ tường phòng vệ sinh nhằm mục đích bán lại cho con nghiện nhưng chưa kịp bán thì đến 16 giờ cùng ngày, H bị lực lượng Công an thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Trần Thị Diễm H có ở chung phòng trọ với H, tuy nhiên H không biết việc H mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời.
Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-ST ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà truy tố bị cáo Đặng Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Thị H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Ngoài ra, còn đề cập đường lối xử lý về tang vật, vật chứng.
Tại phiên tòa, Luật sự bào chữa cho bị cáo Đặng Thị H thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Đặng Thị H thống nhất với lời bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận bổ sung.
Bị cáo Đặng Thị H nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 18 giờ ngày 07/10/2022, tại phòng trọ số 13, số nhà 30 Phó Đức C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, Đặng Thị H bị lực lượng Công an bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu 0,831 gam ma tuý, loại Methamphetamine mà H đã mua của đối tượng tên T trước đó nhằm bán lại cho con nghiện kiếm lời. Hành vi của bị cáo Đặng Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 10/CT-VKS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Đặng Thị H là đối tượng nghiện ma túy nên nhận thức rõ tác hại của ma túy là chất gây nghiện, ma túy không chỉ gây tổn hại sức khoẻ và tinh thần của con người mà còn là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, nhưng ngày 06/10/2022 bị cáo H bất chấp pháp luật liên hệ gặp người thanh tiên tên “T” tại ngã tư đường Ngô Q - Nguyễn Công T, thành phố Đà Nẵng mua 0,831 gam ma tuý, loại Methamphetamine với số tiền 800.000 đồng. Sau khi mua ma túy, H đem về cất giấu tại Phòng trọ số 13, nhà số 30 đường Phó Đức C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Đến chiều ngày 07/10/2022, bạn của H tên “B” đến chơi và được H cho một ít ma túy để người này mang đi nơi khác sử dụng. Sau đó, H lấy một ít ma túy ra sử dụng một mình tại phòng trọ và số ma túy còn lại H cất giấu trên kệ nhựa màu đỏ, đựng đồ dùng cá nhân tại phòng trọ để nhằm bán cho người nghiện thu lợi kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì đã bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đi ngược lại với chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong công tác phòng chống tội phạm về ma túy. Vì vậy, cần phải xử bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương. Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ như đại diện Viện kiểm sát đề nghị và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xử lý vật chứng:
Một phong bì niêm phong số: 213/KLMT-KTHS ngày 13/10/2022 của Phòng KTHS Công an thành phố Đà Nẵng bên trong có chứa 0,579 gam ma tuý, loại Methamphetamine - là khối lượng ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ gồm 01 chai nhựa có nắp trắng gắn 01 ống hút nhựa màu đen và 01 nỏ thủy tinh, nên tịch thu tiêu hủy.
Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, gắn sim 1: 0935404800, sim 2: 0905553422 của Đặng Thị H dùng để liên hệ mua ma túy nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/02/2023).
Về vấn đề khác:
Đối với hành vi của đối tượng tên T là người đã bán ma túy cho Đặng Thị H, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Công an quận Sơn Trà tách ra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.
Đối với hành vi Đặng Thị H có cho ma túy cho đối tượng B vào chiều ngày 07/10/2022, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của B, đồng thời đây chỉ là lời khai duy nhất của H, không có cơ sở chứng minh nên cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Đối với Trần Thị Diễm H, do H không biết việc H cất giấu ma túy trong phòng nên Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà đề cập không xử lý H là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Thị H, Trần Thị Diễm H, Công an thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử lý hành chính là có cơ sở.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đặng Thị H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 07/10/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số: 213/KLMT-KTHS ngày 13/10/2022 của Phòng KTHS Công an TP Đà Nẵng bên trong có chứa 0,579 gam ma tuý, loại Methamphetamine - là khối lượng ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ gồm 01 chai nhựa có nắp trắng gắn 01 ống hút nhựa màu đen và 01 nỏ thủy tinh.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, gắn sim 1: 0935404800, sim 2: 0905553422 của Đặng Thị H.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2023).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tung; - VKSND quận Sơn Trà; - Công an quận Sơn Trà; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng; - VKSND TP. Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Quốc Vũ |