vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tẩn A B, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A B 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 29/12/2022. Quyết định tạm giam bị cáo Tẩn A B với thời hạn là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn A B "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tẩn A B, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MINH
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-ST
Ngày 30-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Đạng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Bình, ông Ngô Đình Thục.

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Quỳnh Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Lài - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại nhà Văn hóa thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Tẩn A B, sinh ngày 14/6/1989, tại xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tẩn A S, sinh năm: 1964 và bà Phàn Thị N, sinh năm: 1967; có vợ: Lý Thị X sinh năm 1986 và con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 34/2018/HSST, ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang tuyên phạt bị cáo 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong Bản án và đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật; bị cáo bị bắt ngày 29/12/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phàn Thị N, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Người phiên dịch tiếng dân tộc Dao: Ông Tẩn A K; nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 50 phút ngày 29/12/2022 tại thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang, tỉnh Hà Giang, tổ công tác Công an huyện Yên Minh phát hiện bắt quả tang Tẩn A B, sinh năm 1989 trú tại Thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang đang có hành vi tàng trữ bên trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người có 02 gói bằng nilon, bên trong có chứa ma túy, loại Heroine có khối lượng là 15,465g. Tiến hành khám xét chỗ ở của Tẩn A B tại Thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang không phát hiện tạm giữ đồ vật, tài liệu, tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội, B khai nhận toàn bộ số chất ma túy trên B mua của một người đàn ông dân tộc Mông, không rõ tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) tại đường dân sinh cách trụ sở Ủy ban nhân dân xã N khoảng 02km nhằm mục đích để sử dụng khi cần.

Tại bản Kết luận giám định số: 20/KL-KTHS, ngày 04/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang, kết luận: “04 (bốn) mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4 đều là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 15,465 g (mười lăm phẩy bốn trăm sáu mươi lăm gam).

Heroine nằm trong danh mục I, mục IA, số thứ tự 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/08/2022 của Chính phủ”.

Vật chứng của vụ án hiện đang tạm giữ gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, Kết luận 20/KL-KTHS”. Mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong; 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”. Phong bì đã được mở niêm phong ngày 20/4/2023 tại Công an huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang; 01 (một) điện thoại di động dạng màn hình cảm ứng, màu sơn xanh, không xác định được nhãn hiệu, chủng loại, tình trạng cũ đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô màu sơn xanh, nhãn hiệu Wave alpha, biển số 23D1-393..., đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 07/CT-VKSYM ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh truy tố bị cáo Tẩn A B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tẩn A B, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Tẩn A B từ 06 (sáu) đến 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/12/2022. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị trả lại cho bị cáo Tẩn A B 01 điện thoại di động và trả lại cho bà Phàn Thị Nhụt 01 xe mô tô biển kiểm soát 23D1-393..., màu sơn xanh, nhãn hiệu Wave alpha, đã qua sử dụng, đối với các vật chứng khác đề nghị Hội đồng xét xử, tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật; về án phí đề nghị Hội đồng xét xử miễn nộp án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin trả lại cho bị cáo một chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu sơn xanh đã bị thu giữ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phàn Thị N nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin trả lại một xe mô tô biển kiểm soát 23D1-393..., màu sơn xanh, nhãn hiệu Wave alpha, đã qua sử dụng.

Kiểm sát viên, bị cáo không ai có ý kiến đối đáp, tranh luận thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, áp dụng điều luật: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Tẩn A B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo trước tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, biên bản cân tịnh xác định khối lượng ma túy Heroin thu giữ được trên người của bị cáo có tổng khối lượng là 15,465g (mười lăm phẩy bốn trăm sáu mươi lăm gam); Kết luận giám định số: 20/KL-KTHS ngày 04/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận là ma túy, loại Heroine; ngoài ra còn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, bản ảnh cùng với toàn bộ chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 29/12/2022 Tẩn A B đang có hành vi tàng trữ trên người 15,465g ma túy loại Heroine thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Minh phát hiện bắt quả tang tại khu vực thôn Phiêng Trà, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang, tỉnh Hà Giang. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh là có căn cứ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tẩn A B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, trong khi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết xã hội nhất định nên nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với bất kỳ mục đích nào đều bị pháp luật cấm và nghiêm trị, mặt khác Nhà nước ta đang ra sức tuyên truyền về tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và hệ lụy khôn lường của nó, nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 15,465 gam ma túy loại Heroine, vì vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã thực hiện, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, sống có ích cho xã hội, biết tuân thủ các quy định của Nhà nước và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về nhân thân: Bị cáo Tẩn A B có nhân thân không tốt đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang tuyên phạt 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong Bản án và đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy: Tẩn A B khai nhận toàn bộ số chất ma túy trên B mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý đối với người đàn ông bán ma túy cho B, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tẩn A B ngày 03/4/2023 Công an huyện Yên Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 00335/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) đối với Tẩn A B (bị cáo đã chấp hành nộp tiền phạt xong) là phù hợp, đúng quy định của pháp luật được chấp nhận, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:

Tịch thu và tiêu hủy đối với các vật chứng thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không sử dụng được gồm: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, Kết luận 20/KL-KTHS”. Mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”. Phong bì đã được mở niêm phong ngày 20/4/2023 tại Công an huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

Trả lại cho bị cáo tài sản đã tạm giữ nhưng không phải là vật chứng gồm: 01 (một) điện thoại di động dạng màn hình cảm ứng, màu sơn xanh, không xác định được nhãn hiệu, chủng loại, tình trạng cũ đã qua sử dụng.

Trả lại cho bà Phàn Thị Nhụt tài sản đã tạm giữ nhưng không phải là vật chứng gồm: 01 (một) xe mô tô màu sơn xanh, nhãn hiệu Wave alpha, biển số 23D1-393..., đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế thuộc diện hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo đã có đơn xin miễn án phí gửi tới Tòa án, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Hội đồng xét xử chấp nhận các đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Tẩn A B, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn A B 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 29/12/2022.

Quyết định tạm giam bị cáo Tẩn A B với thời hạn là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, Kết luận 20/KL-KTHS”. Mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”. Phong bì đã được mở niêm phong ngày 20/4/2023 tại Công an huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang.

- Trả cho bị cáo tài sản gồm: 01 (một) điện thoại di động dạng màn hình cảm ứng, màu sơn xanh, không xác định được nhãn hiệu, chủng loại, tình trạng cũ đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bà Phàn Thị N tài sản gồm: 01 (một) xe mô tô màu sơn xanh, nhãn hiệu Wave alpha, biển số 23D1-393...., đã qua sử dụng.

(Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang).

4. Án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đối với bị cáo.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ