vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 09/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584, Điều 589, Điều 590 Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Buộc Nguyễn Trung Đ phải bồi thường 30.000.000đ cho gia đình bị hại do anh Lương Ngọc Cường là đại diện trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 14/11/202… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS - ST
Ngày 09 tháng 01 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Kim và ông Đỗ Văn Ngôn.

Thư ký phiên toà: Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Ong Văn Chúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 278/2022/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2022/QĐXXST-HS ngày 27/12/2022 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1992. Giới tính: Nam.

- Tên gọi khác: Không.

- Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ dân phố T, phường Đ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

- Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 12/12.

- Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1958.

- Con bà: Phạm Thị L, sinh năm 1958.

- Bị can là con duy nhất trong gia đình.

- Vợ và con chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Bản án số 26/2011/HSST ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tài sản trộm cắp có giá trị 13.000.000 đồng; ngày 14/10/2012 đã chấp hành xong hình phạt; ngày 04/8/2011, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; không phải bồi thường về dân sự.

+ Bản án số 81/2008/HSST ngày 20/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, nhưng được hưởng án treo, trừ đi thời gian đa bị tạm giam là 01 tháng 26 ngày (từ ngày 23/01/2008 đến ngày 19/3/2008). Thời hạn tù còn phải chấp hành là 07 tháng 04 ngày. Thời gian thủ thách là 14 tháng 08 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; ngày 28/10/2009 đã chấp hành xong thời gian thử thách của án treo; ngày 07/8/2008, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; không phải bồi thường về dân sự.

- Bị can không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

* Đại diện của Bị hại:

- Anh Lương Văn C, sinh năm 1969. Nơi cư trú: tổ dân phố 3, thị trấn B, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

* Người làm chứng:

Anh Lương Ngọc Q, sinh năm 1985, trú tại thôn D, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 26/7/2022, Nguyễn Trung Đ- sinh năm 1992, trú tại: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 190137004658 ngày 25/3/2013 của Công an tỉnh Thái Nguyên) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B1- 904.56 đi từ thị trấn Nếnh theo đường Vành đai 4 để về nhà ở thành phố Thái Nguyên. Khi đi gần đến ngã tư giao cắt giữa đường liên xã Trung Sơn- Tiên Sơn với đường Vành đai 4 (cách ngã tư khoảng 100m), Đ quan sát thấy trên đường nhánh bên phải chiều đi của mình có xe mô tô biển kiểm soát 98L6- 5886 do chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1970, trú tại Tổ dân phố 3, thị trấn B, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang điều khiển đang di chuyển từ đường nhánh bên phải vào khu vực ngã tư để sang đường hướng từ phải sang trái so với chiều di chuyển của Đ (hướng di chuyển của chị H từ xã Trung Sơn đi vào đường Vành đai 4 về hướng xã Tiên Sơn) thì Đ giảm tốc độ của xe mô tô, tiếp tục đi vào khu vực giữa ngã tư không dừng lại. Lúc này chị H đang điều khiển xe mô tô di chuyển trên đường Vành đai 4 ở khu vực giữa ngã tư. Thấy có xe mô tô của Đ đi đến, chị H hơi đánh lái về phía bên phải thì bị phần bánh xe phía trước bên phải của xe mô tô do Đ điều khiển va chạm vào giảm sóc trước bên trái, may ơ, vành và má lốp bên trái bánh trước của xe mô tô do chị H điều khiển dẫn đến 02 xe mô tô cùng chị H và Đ bị đổ, va đập, rê trượt trên mặt đường hướng về phía Hiệp Hòa, từ phần đường chiều Việt Yên – Hiệp Hòa sang phần đường chiều Hiệp Hòa – Việt Yên thì dừng lại trên lề đường chiều Hiệp Hòa – Việt Yên. Sau đó, chị H được đưa đi viện cấp cứu tại Bệnh viện quân y 110 – Bắc Ninh. Do vết thương nặng, chị H đã tử vong cùng ngày. Còn Đ được điều trị tại Trung tâm y tế thành phố Thái Nguyên và Bệnh viện trung Ương thái Nguyên từ ngày 26/7/2022 đến 05/8/2022 thì ra viện, được chuẩn đoán gãy xương đòn, đa chấn thương.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Việt Yên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi chị Nguyễn Thị H theo quy định.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là tại Km 06 đường Vành đai 4 giao với đường liên xã thuộc địa phận thôn Hạ Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường vành đai 4 được trải bê tông rộng 11,0m được chia thành hai chiều đường cho xe chạy ngược chiều nhau bằng một vạch sơn đứt quãng màu vàng ở giữa đường rộng 0,15m. Theo chiều đi từ đường Tỉnh lộ 295B đi huyện Hiệp Hoà chiều đường bên phải được chia thành hai làn đường xe chạy rộng lần lượt là 3,3m và 2,0m bằng nột vạch sơn liền màu trắng rộng 0,20m; đầu đoạn đường giao nhau với đường liên xã rộng 11,40m; Chiều đường bên trái được chia thành hai làn đường xe chạy rộng lần lượt là 3,4m và 1,75m bằng một vạch sơn liền màu trắng rộng 0,20m, đầu đoạn đường giao nhau với đường liên xã rộng 10,0m. Trên đường vành đai 4 gần nơi xảy ra tai nạn giao thông ở hai đầu đường giao nhau có cắm biển báo nguy hiểm W207a (giao nhau với đường không ưu tiên). Trên đường liên xã gần nơi xảy ra tai nạn giao thông có cắm biển báo nguy hiểm W208 (giao nhau với đường ưu tiên), hai bên đường là lề đường rộng 3,0m.

Phải trái hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định theo chiều đi từ đường Tỉnh lộ 295B đi huyện Hiệp Hoà trên đường vành đai 4, lấy chân cột Km06 bên phải đường làm mốc và lấy mép đường bên phải làm chuẩn. Trên hiện trường để lại phương tiện và dấu vết như sau:

Vết trượt xước (ký hiệu số 1) có kích thước (17,1 x 0,03)m; tâm đầu vết trượt xước cách mép đường bên phải 5,4m và cách mép đầu đường liên xã hướng đi xã Trung Sơn là 5,67m; tâm cuối vết trượt xước nằm dưới vị trí đầu để chân sau bên phải của xe mô tô 20B1- 904.56 (ký hiệu số 2), cách mép đường bên phải 15,6m.

Xe mô tô 20B1- 904.56 (ký hiệu số 2) đổ nghiêng phải trên sườn đường bên trái, đầu xe hướng vào đường vành đai 4, đuôi xe hướng thôn Hạ Lát, trục bánh trước cách mép đường bên phải 14,75m và cách trục bánh trước của xe mô tô 98L6- 5886 là 7,62m; trục bánh sau cách mép đường bên phải 15,9m.

Vết trượt xước (ký hiệu số 3) có kích thước (4,8 x 0,02)m; tâm đầu vết trượt cách mép đường bên phải 7,4m cách tâm đầu vết trượt xước số (1) là 9,7m; tâm cuối vết trượt cách mép đường bên phải cách mép đường bên phải 8,8m và cách tâm đầu vết trượt xước số (6) là 0,80m.

Vết trượt xước (ký hiệu số 4) có kích thước (10,06 x 0,01)m; tâm đầu vết trượt xước cách mép đường bên phải 8,24m và cách tâm đầu vết trượt số (3) là 1,3m; tâm cuối vết trượt xước nằm dưới vị trí đầu để chân trước bên trái của xe mô tô 98L6-5886 cách mép đường bên phải là 11,0m

Xe mô tô 98L6- 5886 (ký hiệu số 5) đang đổ nghiêng trái trên mặt đường; đầu xe chếch hướng đường Tỉnh lộ 295B, đuôi xe chếch hướng huyện Hiệp Hoà. Trục bánh trước cách mép đường bên phải 10,5m; trục bánh sau cách mép đường bên phải 11,45m.

Vết trượt xước (ký hiệu số 6) có kích thước (6,03 x 0,02)m; tâm đầu vết trượt xước cách mép đường bên phải 9,1m; tâm cuối vết trượt xước nằm dưới vị trí đầu tay lái bên trái của xe mô tô 98L6- 5886 cách mép đường bên phải 10,3m.

Bãi mảnh nhựa vỡ (ký hiệu số 7) có kích thước (2,0 x 1,6)m; tâm bãi mảnh nhựa vỡ cách mép đường bên phải 11,2m và cách tâm bãi máu số (8) là 1,2m.

Bãi máu (ký hiệu số 8) có kích thước (0,7 x 0,3)m; tâm bãi máu cách mép đường bên phải 11,4m và cách trục bánh trước xe mô tô 98L6- 5886 là 6,45m.

- Khoảng cách 32,0m từ đầu tâm vết trượt xước số (1) đến chân cột Km06 đường Vành đai 4 bên phải đường là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông. Kết thúc khám nghiệm hiện trường có thu giữ 02 xe mô tô để điều tra theo quy định.

Kết quả khám nghiệm xe mô tô mang nhãn hiệu Honda Sh 125i, màu sơn trắng, biển kiểm soát 20B1 – 904.56 có các dấu vết va chạm với phương tiện giao thông khác và mặt đường như sau: Phần nhựa đầu xe góc bên phải để lại vết trà sát, rạn nứt có bám tạp chất màu đen, kích thước (0,12 x 0,05)m, tâm cách đất 01m; Giảm sóc phía trước bên phải để lại vết tì nén trà sát có bám tạp chất màu xanh, kích thước (0,23 x 0,07)m, tâm cách đất 0,28m; Vành xe phía trước bên phải để lại vết tỳ nén cong vênh, kích thước (0,10 x 0,08)m, tâm cách chân van 0,13m; Cánh yếm bên phải để lại vết tì nén, trà sát, nứt vỡ, bật khớp nối có bám tạp chất màu xanh kích thước (0,80 x 0,07)m, tâm cách mặt đất 0,62m; Đầu núm tay lái phía trước bên phải để lại vết trà sát mòn kim, kích thước (0,03 x 0,02)m, tâm cách đất 1,01m; Đầu tay phanh phía trước để lại vết trà sát, mòn kim loại, kích thước (0,01 x 0,01)m, tâm cách đất 0,93m; Ốp nhựa để chân phía trước bên phải bật rời khỏi xe, bên trái bật rời khỏi xe, kích thước (0,60 x 0,15)m, tâm cách đất 0,24m; Để chân phía sau bên phải để lại vết trà sát mòn kim loại, kích thước (0,13 x 0,04)m, tâm cách đất 0,43m.

Kết quả khám xe mô tô mang nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98L6 – 5886 có dấu vết va chạm với phương tiện giao thông khác và mặt đường như sau: Gương chiếu hậu bên trái bát gương bị vỡ, bật rời khỏi xe, chân gương chiếu hậu để lại vết trà sát mòn kim loại kích thước (0,03 x 0,01)m, tâm cách đất 1,05m.; Đầu núm tay lái phía trước bên trái để lại vết trà sát mòn kim loại, kích thước (0,04 x 0,01)m, tâm cách đất 01m; Mai ơ phía trước mặt bên trái để lại vết rạn nứt có bám tạp chất màu đen, kích thước (0,12 x 0,12)m, tâm cách đất 0,32m; Ốp giảm sóc phía trước bên trái bị vỡ bật rời khỏi xe, kích thước (0,20 x 0,13)m, tâm cách chân van 0,55m; Mặt dưới đầu giảm sóc bên trái để lại vết trà sát có bám tạp chất màu đen kích thước (0,03 x 0,01)m, tâm cách mặt đất 0,22m; Chắn bùn phía trước để lại vết trà sát, mòn nhựa, kích thước (0,09 x 0,05)m; Mặt nạ phía trước để lại vết trà sát, rạn nứt có bám tạp chất màu trắng, kích thước (0,20 x 0,05)m; Cánh yếm bên trái để lại vết trà sát rạn nứt có bám tạp chất màu trắng, kích thước (0,40 x 0,13)m, tâm cách đất 0,60m; Để chân phía trước bên trái để lại vết trà sát, mòn cao su, hở lõi sắt có bám tạp chất màu trắng và mảnh nhựa màu trắng, kích thước (0,60 x 0,15)m, tâm cách đất 0,28m; Để chân phía sau bên trái để lại vết trà sát cong vênh; Cánh yếm phía trước bên phải để lại vết để lại vết rạn nứt vỡ khuyết, kích thước (0,07 x 0,05)m, tâm cách đất 0,7m; Mặt ngoài lốp xe bên phải để lại vết trà sát, mòn cao su, kích thước (0,30 x 0,04)m, tâm cách chân van 0,04m; Mặt ngoài ốp nhựa đầu xe bên phải vị trí dưới cần gương có vết mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu trắng hướng từ trước ra sau, kích thước (0,055 x 0,03)m, điểm thấp nhất cách đất 0,96m.

Kết quả khám nghiệm tử thi chị Nguyễn Thị H có dấu vết do tai nạn giao thông gây ra như sau: Vùng trán có diện bầm tím da, kích thước (03X02)cm; Vùng thái dương, chẩm trái có diện sưng nề, kích thước (12x08)cm; Xung quanh vành tai trái có diện tím da, kích thước (5,5x05)cm; Hạ sườn trái, mạn sườn trái có diện bầm tím da, kích thước (20x12)cm; Sờ nắn thấy gãy kín cung trước, cung sau các xương sườn 3, 4, 5, 6, 7 bên trái; Chọc hút khoang lồng ngực thấy có máu không đông lẫn dịch bọt.

Tại Bản kết luận giám định Pháp y tử thi số 1470A/KL - KTHS ngày 25/8/2022 của Phòng Kĩ thuật hình sự – Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“- Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị H do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín.

- Cơ chế hình thành thương tích trên cơ thể Nguyễn Thị H: Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, rách da được hình thành do tiếp xúc với vật tày cứng theo nhiều chiều hướng khác nhau tạo nên. Tổn thương gãy xương do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh tạo nên.”

Tại phiếu xét nghiệm hóa sinh máu ngày 26/7/2022 của Trung tâm y tế huyện Việt Yên xác định trong máu của anh Nguyễn Trung Đ có định lượng Ethanol là 0,0 mg/dl.

Tại bản kết luận giám định số 1087/22/TgT ngày 28/11/2022 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang, kết luận như sau: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Nguyễn Trung Đ là: 20%; thương tích do va chạm với vật tày gây nên.”

Ngày 31/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên ra Quyết định số 393 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định cơ chế hình thành dấu vết, vị trí va chạm của các phương tiện, tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại bản Kết luận giám định cơ chế hình thành dấu vết số: 1722/KL-KTHS ngày 26/9/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“- Dấu vết mài sát kim loại, bám dính chất màu đen tại đầu dưới giảm sóc trước bên trái, may ơ, vành và má lốp bên trái bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98L6 – 5886, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 9, 10, 17 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết cong vênh, mài sát, mòn kim loại tại bên phải vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 904.56, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 9 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết gãy vỡ nhựa tại gương chiếu hậu bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98L6 – 5886 (ảnh số 4 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát, nứt vỡ nhựa bám dính chất màu đen tại bên phải ốp nhựa đầu xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 904.56, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 6 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết cong vênh mài sát cao su, kim loại tại bên trái tay xách phía sau, hộp xích, để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98L6 – 5886, có chiều hướng từ trái sang phải (ảnh số 14, 15 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết nứt vỡ, mài sát sơn, nhựa bám dính chất màu đen tại sườn xe bên phải, ống xả của xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 904.56, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 15, 16 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết trượt xước mặt đường kí hiệu số 1 (được thể hiện trong biên bản hiện trường và sơ đồ hiện trường) phù hợp với quá trình sau khi va chạm xe mô tô biển kiểm soát 20B1– 904.56 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên.

- Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 904.56 với xe mô tô biển kiểm soát 98L6 – 5886 trên mặt đường tại trước điểm đầu dấu vết trượt xước kí hiệu số 1 (được thể hiện trong biên bản hiện trường và sơ đồ hiện trường), thuộc chiều chuyển động bên phải theo hướng Tỉnh lộ 295B đi huyện Hiệp Hoà.

- Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 904.56 chuyển động thẳng va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98L6 – 5886 từ bên phải đến theo chiều chuyển động của xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 904.56.

- Không xác định tốc độ của các phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.”

Ngày 19/11/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên định giá xác định giá trị thiệt hại đối với xe mô tô biển kiểm soát 98L6 – 5886 và xe mô tô biển kiểm soát 20B1 – 904.56 trong vụ tai nạn giao thông đường bộ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 179/KL-HĐ ĐGTS ngày 18/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Phần hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98L6- 5886 có giá trị 2.800.000 đồng; Phần hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu sơn trắng đen biển kiểm soát 20B1- 904.56 có giá trị 6.910.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98L6- 5886 tài sản của gia đình anh Lương Ngọc Cường, sinh năm 1969, trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn B, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (chồng nạn nhân Nguyễn Thị H); xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu sơn trắng đen biển kiểm soát 20B1- 904.56 là tài sản của Nguyễn Trung Đ. Ngày 28/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Việt Yên đã trả lại xe ô tô cho anh Lương Ngọc Cường và Nguyễn Trung Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lương Ngọc Cường (chồng nạn nhân Nguyễn Thị H) đại diện theo pháp luật yêu cầu Nguyễn Trung Đ phải bổi thường số tiền 100.000.000 đồng. Bị cáo Đ đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 70.000.000 đồng; còn số tiền 30.000.000 đồng, anh Cường đồng ý cho Đ bồi thường trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 14/11/2022. Nay, anh Cường không yêu cầu Đ phải bồi thường thêm khoản tiền nào; có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Trung Đ. Về thiệt hại đối với 02 chiếc xe mô tô, anh Cường và Đ không có yêu cầu gì.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Trung Đ đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 19/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung Đ từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584, Điều 589, Điều 590 Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Buộc Nguyễn Trung Đ phải bồi thường 30.000.000đ cho gia đình bị hại do anh Lương Ngọc Cường là đại diện trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 14/11/2022.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Nguyễn Trung Đ nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng có lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

. Về tội danh: Khoảng 08 giờ ngày 26/7/2022, tại ngã tư giao cắt giữa đường liên xã Trung Sơn- Tiên Sơn với đường Vành đai 4, có cắm biển báo nguy hiểm W207a (giao nhau với đường không ưu tiên), Nguyễn Trung Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B1- 904.56 đi từ thị trấn Nếnh theo đường Vành đai 4 để về nhà ở thành phố Thái Nguyên. Khi đi vào gần vào khu vực ngã tư cách khoảng 100m, Đ đã nhìn thấy xe mô tô biển kiểm soát 98L6- 5886 do chị Nguyễn Thị H điều khiển đang di chuyển trên đường Vành đai 4, trong khu vực ngã tư, có cắm biển báo nguy hiểm W208 (giao nhau với đường ưu tiên) để sang đường (vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ) hướng từ phải sang trái so với chiều di chuyển của Đ. Nhưng Đ không giảm tốc độ của xe mô tô đến mức an toàn có thể dừng lại, mà tiếp tục điều khiển xe mô tô đi vào khu vực giữa ngã tư không dừng lại (vi phạm khoản 1 Điều 11; Điều 12 Luật giao thông đường bộ) đã để bánh xe phía trước bên phải của xe mô tô do Đ điều khiển va chạm vào giảm sóc trước bên trái, may ơ, vành và má lốp bên trái bánh trước của xe mô tô do chị H điều khiển dẫn đến 02 xe mô tô cùng chị H và Đ bị đổ, va đập, rê trượt trên mặt đường hướng về phía Hiệp Hòa, dừng lại trên lề đường chiều Hiệp Hòa – Việt Yên. Hậu quả, chị H bị Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín dẫn đến tử vong. Còn Đ bị gãy xương đòn, đa chấn thương, có tỷ lệ tổn thương sức khỏe là 20%. Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98L6- 5886 bị thiệt hại có giá trị 2.800.000 đồng; xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu sơn trắng đen biển kiểm soát 20B1- 904.56 bị thiệt hại có giá trị 6.910.000 đồng.

Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do lỗi hồn hợp. Nguyễn Trung Đ điều khiển xe không làm chủ tốc độ khi đi qua khu vực ngã tư có cắm biển báo nguy hiểm W207a vi phạm khoản 1 Điều 11; Điều 12 Luật giao thông đường bộ. Nguyễn Thị H điều khiển đang di chuyển trên đường Vành đai 4, trong khu vực ngã tư, có cắm biển báo nguy hiểm W208 (giao nhau với đường ưu tiên) để sang đường (vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ).

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; được người đại diện theo pháp luật của bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông có một phần lỗi của bị hại. Do đó, bị cáo Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo có nhận thân xấu:

Ngày 20/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, nhưng được hưởng án treo, thời gian thủ thách là 14 tháng 08 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi.

Ngày 17/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 14/10/2012 đã chấp hành xong hình phạt; ngày 04/8/2011, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; không phải bồi thường về dân sự.

Việc bị cáo nhân thân xấu nhưng đều đã được xóa án tích. Nên Hội đồng xét xử xét thấy xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

. Xét về nhân thân và các các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Trung Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, anh Lương Ngọc Cường (chồng nạn nhân Nguyễn Thị H) đại diện theo pháp luật yêu cầu Nguyễn Trung Đ phải bổi thường số tiền 100.000.000 đồng. Bị cáo Đ đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 70.000.000 đồng; còn số tiền 30.000.000 đồng, anh Cường đồng ý cho Đ bồi thường trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 14/11/2022. Nay, anh Cường không yêu cầu Đ phải bồi thường thêm khoản tiền nào; có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Trung Đ. Về thiệt hại đối với 02 chiếc xe mô tô, anh Cường và Đ không có yêu cầu gì. Nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện, buộc Nguyễn Trung Đ phải bồi thường 30.000.000đ cho gia đình bị hại do anh Lương Ngọc Cường là đại diện trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 14/11/2022.

. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu sơn xanh, biển kiểm soát 98L6- 5886 tài sản của gia đình anh Lương Ngọc Cường, sinh năm 1969, trú tại: Tổ dân phố 3, thị trấn B, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (chồng nạn nhân Nguyễn Thị H); Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i, màu sơn trắng đen biển kiểm soát 20B1- 904.56 là tài sản của Nguyễn Trung Đ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung Đ 15 (Mười năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584, Điều 589, Điều 590 Bộ luật dân sự. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

Buộc Nguyễn Trung Đ phải bồi thường 30.000.000đ cho gia đình bị hại do anh Lương Ngọc Cường là đại diện trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 14/11/2022.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Trung Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Cỡ chữ