- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày 28-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: ông Sùng A Sinh và ông Thào A Chinh
- Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Lò Văn Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2023/TLST-HS ngày 15/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Vàng A P- Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 12 tháng 5 năm 1986 tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: không; con ông Vàng Nhè D (Đã chết); Con bà Giàng Thị C (Đã chết); Vợ là Giàng Thị C (sinh năm 1982); Bị cáo có 05 con; Tiền án: không, Tiền sự: không. Chức vụ đảng, chính quyền: Đảng viên (đang đình chỉ sinh hoạt đảng); Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử. Tạm giữ từ ngày 03/10/2023 đến ngày 09/10/2023, Tạm giam: không, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/10/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Giàng Thị Chu- sinh ngày 25/7/1982; trú tại: Thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ, ngày 02/10/2023 bị cáo Vàng A P một mình điều khiển xe mô tô của gia đình đi từ nhà sang xã M, huyện T, trên đường quay về đến đoạn đường gần trường Q thuộc thôn P, xã X, huyện T bị cáo có gặp một người đàn ông đi xe máy, đeo khẩu trang đội mũ bảo hiểm, bị cáo không biết tên và địa chỉ, qua trao đổi bị cáo mua của người này 01 gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, bên trong có 03 gói được gói ngoài mỗi gói bằng một mảnh nilon màu trắng, bên trong 03 gói nhỏ có các cục Heroine, bị cáo mua giá 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo đi về nhà. Sáng ngày 03/10/2023 bị cáo mang số ma túy trên và đi giúp con gái bẻ ngô tại xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo, trên đường đi đến thôn Tỉnh B, xã X, huyện T thì bị Tổ công tác của Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy của bị cáo.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 03 gói nhỏ, bên trong 03 gói nhỏ có các cục chất bột màu trắng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter, biển kiểm soát 27Z1-200.93; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Vàng A P.
Hồi 14 giờ 25 phút ngày 03/10/2023, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định các cục chất bột màu trắng thu giữ của Bị cáo có khối lượng 1,7926 gam.
Kết luận giám định số 1485/KL-PC09 ngày 11/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Vàng A P là 1,7926 gam cục chất bột màu trắng. Mẫu các cục chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A P là chất ma túy: Loại Heroine; hoàn lại 1,59 gam Heroine sau giám định.
Tại Cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Giàng Thị Chu khai chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng là tài sản chung của gia đình và đề nghị được trả lại chiếc xe.
Cáo trạng số 48/CT-VKSHTC ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Vàng A P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại, các vỏ niêm phong, tịch thu sung ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo và trả lại cho vợ bị cáo 1/2 giá trị chiếc xe mô tô; đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận ngày 02/10/2023 bị cáo mua và cất giấu trái phép chất ma túy; đến ngày 03/10/2023 khi Bị cáo mang số ma túy đã mua được trên đường đi đến xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo đã bị Công an huyện phát hiện bắt giữ. Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản xác định khối lượng và bản Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên...
Có đủ cơ sở kết luận, ngày 02/10/2023 bị cáo đã một mình mua được 03 gói ma túy loại Heroine trị giá 600.000 đồng tại đoạn đường thuộc thôn P, xã X, huyện T với mục đích để sử dụng, sau đó bị cáo cất giấu trong nhà, đến ngày 03/10/2023 Bị cáo mang ma túy đi trên đường đã bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý mua 1,7926 gam Heroine để cất giấu trái phép, hành vi của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy từ năm 2019, là đảng viên nhưng bị cáo không noi gương để mọi người học tập, noi theo; mà chỉ do ốm đau nhất thời, bị cáo đã sử dụng ma túy làm chất giảm đau dẫn đến nghiện chất ma túy và phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, hiện bị cáo đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo; tuy nhiên cũng cần xem xét về nhân thân, điều kiện hoàn cảnh và sức khỏe để áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. [4] Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Về các vấn đề có liên quan:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, quá trình Điều tra và tại phiên tòa không xác định được, nên HĐXX không có cơ sở để xem xét, xử lý. [6] Về vật chứng của vụ án:
Số ma túy còn lại 1,59 gam Heroine là vật cấm tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc xe mô tô đăng ký xe mang tên bị cáo (Vàng A P) bị cáo đã sử dụng làm phương tiện để đi mua và vận chuyển trái phép chất ma túy nên cần tịch thu toàn bộ chiếc xe sung ngân sách nhà nước. [7] Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo (Giấy chứng nhận số 169/GCN-HN.HCN ngày 03/01/2023 của UBND xã X), nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. [8] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự 1. Tuyên bố: Bị cáo Vàng A P phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Vàng A P 02 (hai) năm tù. Khấu trừ cho Bị cáo 06 (sáu) ngày tạm giữ, Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án. 3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại có khối lượng 1,59 gam Heroine, 01 vỏ niêm phong.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter, biển kiểm soát 27Z1-200.93 thu giữ của bị cáo (cùng đăng ký xe mang tên Vàng A P).
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện T. 4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/11/2023).
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện T; - Cơ quan CSĐT- CA huyện T; - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện T; - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA, HSTHA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Anh Tuấn |