- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng Tr và đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Tr 18 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 27 tháng 11 năm 2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày 27 -3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Như Khôi.
Bà Lê Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Văn Đình Thắng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS, ngày 10 tháng 3 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2023, đối với:
- Các bị cáo:
1. Lê Hoàng Tr, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1997, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm D, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng Kh và bà Phan Thị K; có vợ Đặng Thị L và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 11 năm 2022 đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Anh T, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1998, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm D, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ph và bà Bùi Thị H; có vợ Bùi Thị Th và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 11 năm 2022 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Chị Lê Thị M, sinh năm 2002; nơi cư trú: Xóm D, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
2. Anh Đặng Văn M, sinh năm 2001; nơi cư trú: Xóm Ph, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Sỹ T, sinh năm 1968; nơi cư trú: Xóm D, xã Th, huyện Th, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 27/11/2022, Lê Hoàng Tr sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 gắn thẻ sim số thuê bao 0799.111.658 đăng nhập vào ứng dụng Zalo và gọi cho Nguyễn Anh T nói “có 300.000 đồng đây đi mua ma túy về sử dụng” thì T đồng ý. Một lúc sau, Tr điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 37M1-682.69 đến chỗ T đang làm việc để chở T đi mua ma túy, nhưng khi gặp nhau cả T và Tr đều không có tiền. Tr điều khiển xe mô tô chở T đến quán Bia M ở xã L, huyện H gặp một người bạn tên T để lấy tiền thì Tú đưa cho T và Tr 300.000 đồng. Sau đó T điều khiển xe mô tô chở Tr đi đến khu vực gần cổng Bệnh viện huyện N rồi T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K gắn thẻ sim số thuê bao 0372.830.438 gọi vào số điện thoại 0852.038.365 của người đàn ông bán ma túy mà T không quen biết, không rõ lai lịch cụ thể. Người này hẹn T đi đến trước cổng Bệnh viện huyện N để lấy ma túy. T, Tr đi đến điểm hẹn, gặp và đưa cho người đàn ông bán ma túy 300.000 đồng. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đi vào phía trong Bệnh viện rồi gọi điện thoại và chỉ cho T chỗ giấu ma túy cạnh cột bê tông ở mép đường phía trước cổng nhà gửi xe của Bệnh viện huyện N. T điều khiển xe mô tô chở Tr đi lại vị trí để ma túy, Tr xuống xe lấy gói ma túy để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long cầm ở tay phải rồi cả hai điều khiển xe mô tô tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện N ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra, Tr ngồi sau đã ném gói ma túy vừa mua được xuống đường để bỏ chạy thì bị bắt giữ.
Tại bản kết luận giám định số 1343/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 01/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất rắn tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Hoàng Tr và Nguyễn Anh T gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine). Số chất rắn tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Hoàng Tr và Nguyễn Anh T có khối lượng là 0,65g (Không phẩy sáu mươi lăm gam).”
Bản Cáo trạng số 10/CT-VKSNĐ ngày 10/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T mỗi bị cáo mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì thư đã được niêm phong đúng quy định: Bên trong bì thư có một túi ni lông trong suốt và phong bì thư niêm phong ban đầu. Bên ngoài bì thư ghi “Vật chứng còn lại thu giữ Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T”. Đây là vật không có giá trị sử dụng,
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, thu giữ của Lê Hoàng Tr; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16k màu vàng, thu giữ của Nguyễn Anh T.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T đã khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 27/11/2022, tại khu vực cổng Bệnh viện huyện N, khối Quang Trung, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Lê Hoàng Tr và Nguyễn Anh T đã có hành vi cất giữ 0,65 gam ma tuý (Methamphetamine) nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện N phát hiện bắt quả tang. Xét thấy lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về quản lý của Nhà nước về ma túy và là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Vụ án có tính chất đồng phạm, nhưng mang tính giản đơn, do đó khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm cần phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng đồng phạm. Bị cáo Lê Hoàng Tr là người khởi xướng việc đi mua ba túy về sử dụng, nên phải chịu hình phạt cao hơn đối với bị cáo T. Bị cáo T tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình.
Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo Tr có ông nội là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Bị cáo T có ông ngoại là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, Huân chương chiến sỹ vẻ vang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 37M1-682.69 thu giữ của Lê Hoàng Tr. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị Lê Thị M, chị M không biết việc Tr sử dụng xe của mình để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Mai đúng quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 gói ma tuý (Methamphetamine) có khối lượng 0,65 gam thu giữ của Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T đã gửi đi giám định hết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 bì thư đã được niêm phong đúng quy định: Bên trong bì thư có một túi ni lông trong suốt và phong bì thư niêm phong ban đầu. Bên ngoài bì thư ghi “Vật chứng còn lại thu giữ Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T”. Đây là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, thu giữ của Lê Hoàng Tr. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16k màu vàng thu giữ của Nguyễn Anh T. Xét đây là công cụ, phương tiện để bị cáo thực hiện phạm tội, đang có giá trị sử dụng. cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
. Đối với anh Nguyễn Sỹ T là chủ đăng ký số điện thoại 0852.038.365, nhưng quá trình điều tra, nhận dạng xác định anh Toàn không phải là người đã bán ma túy cho Tr và T nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
. Đối với người đàn ông tên T có địa chỉ tại xã L, huyện H, tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra đã tổ chức xác minh nhưng chưa có kết quả, khi xác minh được sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật.
. Ngoài ra, T và Tr còn khai nhận số điện thoại 0852.038.365 của người bán ma túy do anh Đặng Văn M cung cấp, tuy nhiên quá trình điều tra anh M không thừa nhận đã cung cấp số điện thoại này cho T và Tr nên chưa đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
. Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Tr 18 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 27 tháng 11 năm 2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 15 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 27 tháng 11 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì thư đã được niêm phong đúng quy định: Bên trong bì thư có một túi ni lông trong suốt và phong bì thư niêm phong ban đầu. Bên ngoài bì thư ghi “Vật chứng còn lại thu giữ Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T”.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0799.111.658, Imei 356768088574704 thu giữ của Lê Hoàng Tr. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16k màu vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0372.830.438, Imei 861063057441178 thu giữ của Nguyễn Anh T; tình trạng đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra.
(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An và Chi Cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Hoàng Tr và Nguyễn Anh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Hoàng Tr, Nguyễn Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: [ơ - VKSND huyện N; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện N; - CQCSĐT, CQ THAHS Công an huyện N; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An. - VKSND tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Mạnh |