vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 04/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, bị cáo được trừ 06 ngày tạm giữ từ ngày 13/9/2022 đến ngày 19/9/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. [3] Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đ phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM THAO
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08 /2023/HS-ST
Ngày 04 tháng 01 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng

Ông Nguyễn Phúc Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Nguyễn Hải Ninh - KiÓm s¸t viªn.

Ngày 04 tháng 1 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 02 tháng 7 năm 1987, tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 11, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị T; vợ: Đặng Thị H (hiện đi xuất khẩu lao động), con: chưa có; tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/9/2022 đến ngày 19/9/2022 thì được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Đại: Bà Bùi Thu H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1982

Địa chỉ: Khu 5, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/9/2022, tổ công tác của Công an huyện Lâm Thao làm nhiệm vụ tại xã T, huyện L thì phát hiện nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính thì người thanh niên này khai tên là Bùi Văn H, sinh năm 1982 ở khu 5, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ và tự giác lấy trong túi quần bên phải 01 túi nilon màu trắng một mặt có chữ màu xanh, miệng túi có khuy bấm, có viền màu đỏ bên trong có chứa chất thảo mộc màu xanh nâu giao cho tổ công tác. H khai đó là ma túy cần sa mua của Nguyễn Văn Đ ở khu 11, xã V, huyện L. Tổ công tác tiến hành lập biên bản vụ việc và thu giữ, niêm phong gói giấy do Bùi Văn H giao nộp theo quy định. Qua kiểm tra, Bùi Văn H dương tính với ma túy cần sa.

Trên cơ sở lời khai của H, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Thao tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987 ở khu 11, xã V, huyện L. Quá trình khám xét thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng cài sim 0961636758; 01 túi nilon màu trắng một mặt có chữ, trên mép có khuy bấm, có viền đỏ và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn Đ.

Tại Kết luận giám định số 1254/KL-KTHS ngày 15/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Chất dạng thảo mộc màu xanh nâu đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một mặt có chữ màu xanh, miệng túi có khuy bấm, trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 1,768 gam, loại: Cần sa

Cần sa và các chế phẩm từ cần sa: Số thứ tự 01, danh mục ID, Nghi định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Văn H khai nhận: H là người sử dụng ma túy cần sa, do có quen biết với Nguyễn Văn Đ nên khoảng gần 19 giờ ngày 09/9/2022 H có sử dụng điện thoại di động Nokia màu đen cài sim số 0985055923 của mình gọi vào số thuê bao 0961636758 của Nguyễn Văn Đ để hỏi mua 400.000 đồng ma túy cần sa. đồng ý và hẹn đến cổng làng khu 11, xã V, huyện Lâm Thao. Hùng sau đó lấy xe máy không rõ của ai (chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa) ở quán nước của bà Hoàng Thị H, tại ngã tư D, xã C, huyện L đi đến cổng làng gặp Đ. Tại đây, H đưa cho Đ 400.000 đồng và Đ đưa lại cho H 02 gói nilon bên trong chứa cần sa. Mua được cần sa, H quay lại quán nước trả xe và đi về nhà dùng điếu cày sử dụng hết 01 gói cần sa, vỏ nilon vứt vào thùng rác công cộng, còn 01 túi H mang theo người thì bị phát hiện và thu giữ như đã nói ở trên. Chiếc điện thoại dùng để liên lạc mua ma túy của Đ, H đã vứt bỏ vào thùng rác, còn sim điện thoại thì H giao nộp cho cơ quan điều tra cùng 01 túi nilon chứa cần sa.

Nguyễn Văn Đ khai nhận: Đ là người sử dụng ma túy cần sa nên ngày 02/9/2022 Đ mua 400.000 đồng được 04 gói ma túy cần sa của một người thanh niên không quen biết tại quảng trường trước trung tâm thương mại Vincom Việt Trì. Đ cầm về sử dụng hết 02 gói bằng điếu cày, còn lại 02 gói thì Đ mượn xe mô tô biển kiểm soát 29AA-126.48 của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1957 ở khu 11, xã V, huyện L đi bán cho H vào tối ngày 09/9/2022 với giá 400.000 đồng như đã nêu trên.

Quá trình đối chất Bùi Văn H và Nguyễn Văn Đ đều khai nhận hành vi của mình. Qua tra cứu cước thuê bao của Nguyễn Văn Đ và Bùi Văn H thể hiện số thuê bao di động 0985055923 của Bùi Văn H phát sinh cuộc gọi đến số thuê bao 0961636758 của Nguyễn Văn Đ vào 18 giờ 44 phút và 18 giờ 47 phút ngày 09/9/2022.

Cáo trạng số: 50/CT -VKSLT ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 24 đến 27 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/9/2022 đến ngày 19/9/2022, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu để tiêu hủy 01 bì niêm phong số 1254/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ. Mặt ngoài ghi “trả lại 1,081 gam chất dạng thảo mộc màu xanh nâu, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong vụ Bùi Văn H – sinh năm 1982, HKTT: Khu 5, xã T, huyện Lâm Thao có hành vi phạm tội về chất ma túy, có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ và chữ của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán”.

Đối với 01 túi nilon màu trắng, một mặt có chữ màu xanh, miệng túi có khuy bấm, có viền màu đỏ cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 sim điện thoại của Nguyễn Văn Đ và Bùi Văn H cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng của Nguyễn Văn Đ là phương tiện dùng để liên lạc bán ma túy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 400.000 đồng bán ma túy mà có, bị cáo đã tiêu sài cá nhân hết nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn Đ do không liên quan đến việc phạm tội nên cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Thao đã trả lại cho bị cáo Đại.

Về án phí: Buộc bị cáo được miễn án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Đ trình bày: do gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện cho bị cáo đi học nên nhận thức của bị cáo phần nào bị hạn chế, xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức khởi điểm của khung hình phạt.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra và đối với chiếc sim điện thoại không đề nghị nhận lại, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Thao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa công khai hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: kết luận giám định; biên bản hỏi cung bị can, vật chứng vụ án ... Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 19 giờ ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại cổng làng khu 11, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành vi bán trái phép 02 gói ma túy cần sa cho Bùi Văn H với giá 400.000 đồng. H đã sử dụng hết 01 gói còn lại 01 gói có khối lượng 1,768 gam bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Thao phát hiện, thu giữ ngày 12/9/2022.

Hành vi bán trái phép ma túy cần sa của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại tới chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích kiếm lời nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy phải đưa ra xét xử và có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau:

Bị cáo có nhân thân tốt, lần phạm tội này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với 01 bì niêm phong số 1254/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ. Mặt ngoài ghi “trả lại 1,081 gam chất dạng thảo mộc màu xanh nâu, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong vụ Bùi Văn H – sinh năm 1982, HKTT: Khu 5, xã T, huyện Lâm Thao có hành vi phạm tội về chất ma túy, có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ và chữ của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán” là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng của bị cáo Nguyễn Văn Đ sử dụng để liên lạc bán ma túy cho Bùi Văn H cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 sim điện thoại số 0961636758 của bị cáo Nguyễn Văn Đ cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 sim điện thoại số 0985055923 của Bùi Văn H cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 túi nilon màu trắng, một mặt có chữ màu xanh, miệng túi có khuy bấm, có viền màu đỏ cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo bán ma túy mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cần sa của Bùi Văn H do lượng ma túy chưa đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Thao đã đề nghị Công an huyện Lâm Thao xử lý vi phạm hành chính đối với Bùi Văn H là phù hợp. Ngoài ra, Bùi Văn H còn có hành vi lấy xe mô tô của người khác đi mua cần sa của Đ tuy nhiên H không xác định được xe của ai và sau đó đã mang xe lại quán nước trả lại nên Cơ quan CSĐT không xem xét mục đích chiếm đoạt chiếc xe này của H là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn Đ tại nhà trước thời điểm bị phát hiện, do nguồn gốc ma túy cùng với số ma túy đã bị thu giữ nên không xem xét, xử lý đối với hành vi này của Đ là phù hợp.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 29AA-126.48 Đại mượn của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T do khi mượn Đ không nói việc sử dụng xe để đi mua bán ma túy nên bà T không biết. Vì vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Thao không xem xét xử lý đối với bà T là phù hợp.

Về nguồn gốc ma túy bị cáo Đ khai mua của một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ cụ thể ở khu vực quảng trường trước trung tâm thương mại Vincom nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Thao không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ.

Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, bị cáo được trừ 06 ngày tạm giữ từ ngày 13/9/2022 đến ngày 19/9/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

[3] Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.

[4] Về xử lý vật chứng vụ án:

Tịch thu để tiêu hủy 01 bì niêm phong số 1254/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ. Mặt ngoài ghi “trả lại 1,081 gam chất dạng thảo mộc màu xanh nâu, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong vụ Bùi Văn H – sinh năm 1982, HKTT: Khu 5, xã T, huyện Lâm Thao có hành vi phạm tội về chất ma túy, có đóng dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ và chữ của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán”.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng dã qua sử dụng có số imei 356049035926 của bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0961636758 của bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0985055923 của Bùi Văn H.

Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng, một mặt có chữ màu xanh, miệng túi có khuy bấm, có viền màu đỏ.

(Tình trạng vật chứng trên thể hiện như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao).

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Cỡ chữ