- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P bị truy tố về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày 07 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Dũng;
Bà Hà Thị Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bách – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Ker Bkrông - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1948 tại tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị B và 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1974, con nhỏ nhất sinh năm 1985; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/3/2023 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Phương H, sinh 02/7/2008 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Đinh Văn H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
+ Anh Bùi Tiến M, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 26 tháng 12 năm 2022, Nguyễn Văn P đã có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 47N1-125.02, nhãn hiệu Honda đi từ hướng Ủy ban nhân dân xã B, huyện L theo tỉnh lộ 687 về hướng huyện K, tỉnh Đắk Lắk để đến nhà ông Trần Văn Ph, trú cùng thôn. Khi P điều khiển xe mô tô đến Km13+ 470 tỉnh lộ 687 thì chuyển hướng sang bên trái theo hướng di chuyển, để đi vào nhà ông Ph.
Trong lúc chuyển hướng, P không bật đèn tín hiệu báo rẽ đường, không quan sát xe di chuyển cùng chiều phía sau nên đã dẫn đến va chạm với xe mô tô mang biển số đăng ký 47N4-4744, nhãn hiệu Honda do chị Nguyễn Thị Phương H điều khiển, phía sau chở theo em trai là cháu Nguyễn Xuân Q, đang đi cùng chiều phía sau xe mô tô do P điều khiển. Hậu quả: Nguyễn Văn P bị thương tích nhẹ ở đầu và tay, cháu Nguyễn Xuân Q bị bầm đỏ ở chân, chị Nguyễn Thị Phương H bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên, đến 03 giờ 00 phút, ngày 27 tháng 12 năm 2022 thì chị Nguyễn Thị Phương H tử vong.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 26/12/2022 và biên bản dựng lại hiện trường ngày 27/12/2022 thể hiện:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, cách hiện trường khoảng 5000cm, đường hơi cong về bên phải theo hướng từ Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết đi hướng huyện Krông Ana. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 550cm, ở giữa có vạch kẻ đường màu vàng đứt quãng, chia mặt đường thành hai phần đường, phần đường bên phải theo hướng Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết, huyện Lắk đi huyện Krông Ana rộng 285cm. Hai bên lề đường rộng 100cm, trên bề mặt được trải lớp đất cát bằng phẳng, ngay tại hiện trường có biển báo nguy hiểm chỗ ngoặt vòng bên phải theo hướng Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết, huyện Lắk đi huyện Krông Ana.
Tại hiện trường xác định vết cày khuyết có kích thước (15 x 2 x 0,1)cm, dấu vết có chiều hướng từ Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết, huyện Lắk đi huyện Krông Ana và hơi lệch về mép đường bên trái, được ký hiệu trong sơ đồ hiện trường là (1). Đo từ đầu (1) đến mép đường chuẩn là 430cm, đo tới mốc cố định là 3755cm, đo từ cuối (1) tới mép đường chuẩn là 435cm.
Tại hiện trường xác định vị trí vết cày khuyết đứt quãng có kích thước (235 x 2 x 0,1)cm, dấu vết có chiều hướng từ Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết, huyện Lắk đi huyện Krông Ana, được ký hiệu trong sơ đồ hiện trường là (2). Đo từ đầu (2) đến mép đường chuẩn là 415cm, đo đến cuối (1) là 45cm, cuối (2) trùng với gác để chân trước bên phải của xe mô tô biển số đăng ký 47N1-125.02 và đo đến mép đường chuẩn là 455cm.
Vị trí xác định vết cày khuyết đứt quãng có kích thước (240 x 2 x 0,1)cm, dấu vết có chiều hướng từ Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết, huyện Lắk đi huyện Krông Ana và hơi lệch về mép đường bên trái, được ký hiệu trong sơ đồ hiện trường là (3). Đo từ đầu (3) đến mép đường chuẩn là 485cm, đo đến đầu (2) là 70cm và đo từ cuối (3) đến mép đường chuẩn là 590cm.
Vị trí xe mô tô biển số đăng ký 47N1-125.02 nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay về hướng huyện Krông Ana, đuôi xe quay hướng ngược lại, được ký hiệu trong sơ đồ hiện trường là (4). Đo từ tâm trục bánh sau xe (4) đến mép đường chuẩn là 455cm, đo đến cuối (3) là 70cm. Đo từ tâm trục bánh trước xe (4) đến mép đường chuẩn là 480cm, đo đến mốc cố định là 3490cm.
Vị trí xe mô tô biển số đăng ký 47N4-4744 nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay về hướng huyện Krông Ana, đuôi xe quay hướng ngược lại, được ký hiệu trong sơ đồ hiện trường là (5). Đo từ tâm trục bánh sau xe (5) đến mép đường chuẩn là 610cm, đo đến tâm trục bánh sau xe (4) là 150cm. Đo từ tâm trục bánh trước xe (5) đến mép đường chuẩn là 636cm, đo đến mốc cố định là 3630cm.
Vị trí khu vực có dung dịch màu nâu (nghi máu) có kích thước (15 x 10)cm, được ký hiệu trong sơ đồ hiện trường là (6). Đo từ tâm (6) đến mép đường chuẩn là 500cm, đo đến tâm trục trước xe (5) là 145cm; Vị trí khu vực có dung dịch màu nâu (nghi máu) có kích (50 x 10)cm, được ký hiệu trong sơ đồ hiện trường là (7). Đo từ tâm (7) đến mép đường chuẩn là 650cm, đo đến tâm (6) là 240cm.
Điểm va chạm đầu tiên giữa xe môtô mang biển kiểm soát 47N4 - 4744 với xe môtô mang biển kiểm soát 47N1-125.02, chiếu vuông góc xuống mặt đường đo đến mép đường chuẩn là 264cm, đo đến đầu (1) cách 263cm và đo đến mốc cố định của trụ điện số 232, cột điện cao thế 35kw là 3880cm.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số đăng ký 47N4-4744 ngày 27/12/2022 thể hiện:
Đầu tay lái bên phải có dấu vết chà xước kích thước (2 x 1)cm; Yếm chắn gió phía trước bên phải có vết nứt, kích thước (7 x 6)cm, đo từ vị trí gần nhất của dấu vết đến đầu ốc cố định gác ba ga phía trước bên phải là 17cm, xa nhất là 24cm.
Phần ốp nhựa bảo vệ phuộc nhún phía trước bên phải gắn liền với cung chắn bùn phía trước bị nứt vỡ, kích thước (10 x 1)cm, đo từ vị trí gần nhất của dấu vết đến ốc cố định bên phải của cung chắn bùn phía trước là 1cm, xa nhất là 7,5cm.
Phuộc nhún phía trước bên phải bị cong, chiều hướng từ trước ra sau, lệch khỏi vị trí ban đầu 2cm; Phần đầu cục cao su của gác để chân phía trước bên phải có dấu vết mài mòn cao su, kích thước (2,5 x 0,2)cm, chiều hướng từ trước ra sau.
Phần đầu thanh kim loại của gác để chân phía trước bên phải có dấu vết mài mòn kim loại, kích thước (1,5 x 1,5 x 0,1)cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển số đăng ký 47N1-125.02 ngày 27/12/2022 thể hiện:
Gương chiếu hậu bị bung rời khỏi xe; Phần phía sau cần đạp số bị cong, chiều hướng từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong, lệch khỏi vị trí ban đầu là 11cm. Mặt dưới của bàn đạp phần phía sau của cần đạp số có vết mài mòn kim loại, kích thước (2 x 0,1)cm.
Ốp cao su của gác để chân phía trước bên trái bị lệch sâu vào trong thanh kim loại theo chiều hướng từ ngoài vào trong, trên bề mặt ốp cao su có dính tạp chất màu nâu đỏ nghi máu, đo từ vị trí đầu ngoài ốp cao su đến đầu thanh kim loại là 4cm.
Đầu gác để chân phía trước bên trái ở phần thanh kim loại trên bề mặt có dính tóc và tạp chất màu nâu đỏ (nghi máu); Đầu gác để chân phía trước bên phải có dấu vết mài mòn kim loại và cao su, kích thước (1,5 x 2)cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 36/TTh-TTPY ngày 03/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Nguyễn Thị Phương H: Suy hô hấp, suy tuần hoàn do Chấn thương sọ não nặng điều trị không hồi phục/ Nhiều thương tích khác do tai nạn giao thông.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk đã truy tố.
Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 12/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Quá trình luận tội tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, o, x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lắk đã trao trả 01 xe mô tô biển số đăng ký 47N1-125.02, nhãn hiệu Honda; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 008361 cấp ngày 12/3/2018 và 01 giấy phép lái xe số T311491 cấp ngày 20/11/2004 cho Nguyễn Văn P là chủ sở hữu hợp pháp. Trao trả 01 xe mô tô biển số đăng ký 47N4-4744, nhãn hiệu Honda cho anh Nguyễn Xuân Đông là chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn P đã bồi thường cho gia đình người bị hại 100.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại anh Nguyễn Xuân Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo Nguyễn Văn P nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo tuổi đã cao, sức khỏe yếu, có nhiều bệnh, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/12/2022, Nguyễn Văn P điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 47N1-125.02 đi từ hướng Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết, huyện Lắk theo tỉnh lộ 687 về hướng huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. Khi đến Km13+ 470 tỉnh lộ 687 thuộc địa phận thôn Mê Linh 2, xã Buôn Triết, huyện Lắk thì bất ngờ chuyển hướng sang bên trái theo hướng di chuyển, trước khi chuyển hướng không quan sát, không bật tín hiệu đèn xi nhan báo hướng rẽ nên dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số đăng ký 47N4-4744 do chị Nguyễn Thị Phương Huyền điều khiển phía sau đi cùng chiều. Hậu quả, chị Nguyễn Thị Phương Huyền bị tử vong.
Hành vi của Nguyễn Văn P đã vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chị Nguyễn Thị Phương Huyền bị tử vong nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk truy tố bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra.
Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng; bị cáo là người trên 70 tuổi; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có thành tích trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Gia đình bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự bị cáo được hưởng khi quyết định hình phạt.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt trước khi phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, thiết nghĩ không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và đạt được mục đích của hình phạt, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Về khấu trừ thu nhập: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người già yếu, là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Xét thấy miễn khấu trừ một phần thu nhập trong thời gian cải tạo đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Đối với việc chị Nguyễn Thị Phương H chưa đủ 16 tuổi, điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 47N4-4744 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Xuân Đông. Quá trình điều tra xác định, anh Đông để xe mô tô tại nhà, chị Huyền tự ý sử dụng phương tiện để tham gia giao thông, nhưng anh Đông không biết nên không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lắk đã trao trả 01 xe mô tô biển số đăng ký 47N1-125.02, nhãn hiệu Honda; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 008361 cấp ngày 12/3/2018 và 01 giấy phép lái xe số T311491 cấp ngày 20/11/2004 cho Nguyễn Văn P là chủ sở hữu hợp pháp. Trao trả 01 xe mô tô biển số đăng ký 47N4-4744, nhãn hiệu Honda cho anh Nguyễn Xuân Đông là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an huyện Lắk nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn P cho Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Buôn Triết, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Lắk trả lại cho Nguyên Văn P 01 xe mô tô biển số đăng ký 47N1-125.02, nhãn hiệu Honda; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 008361 cấp ngày 12/3/2018 và 01 giấy phép lái xe số T311491 cấp ngày 20/11/2004. Trả lại cho anh Nguyễn Xuân Đông 01 xe mô tô biển số đăng ký 47N4-4744, nhãn hiệu Honda cho.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiểm tra I, TANDTC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Lắk; - CQCSĐTCA huyện Lắk; - Bị cáo; - THAHS; - Chi cục THADS huyện Lắk; - Lưu hồ sơ; - Văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI PHÁT XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Ngọc THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Ngọc |