vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2/. Về điều luật áp dụng: 1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Hoàng V 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trân Hoàng Vũ và ĐB - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hì…"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt các; Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt các; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-ST
Ngày: 13-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Lê Thị Khanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Liễu – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 222/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 176/2022/HSST-QĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/HSST-QĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Hoàng V. Sinh năm 1996 tại TP.HCM; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: XX tổ 7, ấp 8, xã TTĐ, huyện CC, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn H và bà Huỳnh Thị Mộng T; Vợ: Nguyễn Thị Q và 01 con (sinh năm 2019); Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 31/3/2022 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2/ Họ và tên: Nguyễn Lê N. Sinh năm 1996 tại tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: không rõ; Nơi cư trú: XX tổ 7, ấp 8, xã TTĐ, huyện CC, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: không rõ và mẹ: không rõ; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 31/3/2022 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3/ Họ và tên: Chau U (tên gọi khác: tý). Sinh năm 1999 tại tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: ấp ST, xã CT, TT, An Giang; Nơi cư trú: XX tổ 7, ấp 8, xã TTĐ, huyện CC, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L và bà Neáng Kim S; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 31/3/2022 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

1/ Ông Đinh Thế T, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú: xx khu phố 7, phường Tr Mỹ Tây, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: yy ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, TP.HCM (vắng mặt).

2/ Ông Lê Chí Th, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: ấp Phước Hòa, xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang; Nơi ở: zz ấp Hưng Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP.HCM (vắng mặt).

3/ Ông Võ Văn Ph, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: xx ấp Xuân Thới Đông 2, xã Xuân Thới Đông, huyện Hóc Môn, TP.HCM; Nơi ở: yy ấp 3, xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, TP.HCM (vắng mặt).

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Chau U: Bà Phan Thị Ngọc Thanh – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Tr tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, Địa chỉ : 470 Nguyễn Tri Phương, phường 9, Quận 10, TP.HCM (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 21/12/2021 Trần Hoàng V, Chau U, Nguyễn Lê N, Nguyễn Tiền Đ và L, V, H ( chưa rõ lai lịch) ngồi ăn uống bia tại quán cháo bầu thuộc xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày thì Trần Hoàng V, Chau U, Nguyễn Lê N và L, V, H cùng nhau đến quán Karaoke Galaxy địa chỉ xx ấp Mỹ Hòa 1, xã Tr Chánh, huyện Hóc Môn tiếp tục hát karaoke và ăn nhậu. Nhóm V ngồi hát và uống bia tại phòng The King, lúc này V gọi điện thoại kêu Đinh Thế T (tên thường gọi là Tr bố) đến nhậu cùng. Khoảng 10 phút sau thì Tr đi một mình đến phòng The King ngồi nhậu cùng nhóm của V. Khoảng 05 phút sau thì có một nhóm thanh niên (không rõ lai lịch) đi vào phòng The King, Tr nói có mấy đứa em vô mời bia L, L nói làm gì mà vô đây đông quá vậy, V cũng nói Tr là không tôn trọng L, còn V chửi Tr mời có một mình sao lại đến đông như vậy thì Tr là nhóm thanh niên đi ra khỏi phòng. Một lúc sau thì có nhân viên của quán (không rõ là ai) mở cửa phòng V nói là “tụi anh chạy đi”, V nghĩ Tr tính đánh V nên V mở cửa phòng rồi V, V, H, Chau U, Nguyễn Lê N mỗi người đều cầm dao (chuẩn bị sẵn trong người, còn Nguyễn Lê N xuống khu vực bếp trong quán lấy một con dao) đi ra, khi đến trước phòng Vip 1.2 thì thấy Tr một mình đứng trước cửa phòng Vip 1.2. Lúc này trong phòng Vip 1.2 còn có Lê Chí Th, Võ Văn Ph và một số người đang hát Karaoke, V xông đến thì bị Tr dùng tay đánh vào đầu một cái, V cầm con dao xếp dài khoảng 27cm trên tay phải xông đến đâm trúng tay trái Tr một nhát, trúng vùng ngực trái Tr một nhát, Tr bỏ chạy vào phòng Vip 1.2, Vũ đuổi theo và dùng chân đá vào vùng bụng Tr ba bốn cái. Thấy vậy Th, Ph bỏ chạy thì Vũ nghĩ là đồng bọn của Tr nên V, Chau U, Nam, Việt, Hải cầm dao xông đến đâm trúng vùng mặt, đầu, tay của Thiện, Phương gây thương tích rồi nhóm V bỏ chạy thoát. Trên đường bỏ chạy thì Chau U, Nam quăng mất con dao, còn V vẫn giữ lại con dao gây án trong người.

Tại Cơ quan CSĐT, Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U khai nhận hành vi phạm tội như đã khai trên. V khai nhận nhóm V chỉ mời có một mình Tr đến hát Karaoke cùng, nhưng Tr đi cùng với một số thanh niên và khi nghe có người nói “Mấy anh chạy đi” thì V nghĩ nhóm Tr sẽ vây đánh nên V cùng cả nhóm dùng dao đâm gây thương tích cho Tr, Th, Ph như trên. Lời khai của các bị can phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai các bị hại và vật chúng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 27/01/2022, Tr tâm pháp y – Sở Y tế TP.HCM có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 43/TgT.22 ngày 27/01/2022 đối với Đinh Thế T, kết quả như sau:

1. D u hi u chính qua giám định:

- Hai vết thương phần mềm đã được điều trị khâu vết thương, hi n còn:

+ Một sẹo vùng vú trái kích thước 4,8x(0,1-0,3) cm, ổn định.

+ Một sẹo vùng kẽ ngón I và II bàn tay trái kích thước 1,5x0,1cm, ổn định.

Có tỉ l 01% (Một phần trăm) mỗi vết.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ l tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định pháp y tâm thần:

- Tỉ l tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hi n tại là: 2% (Hai phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Hai thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

- Thông tư 22/2019/TT-BYT không qui định về cố tật.

Ngày 28/01/2022, Tr tâm pháp y – Sở Y tế TP.HCM có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 50/TgT.22 ngày 28/01/2022 đối với Lê Chí Th, kết quả như sau:

1. D u hi u chính qua giám định:

- Vết thương vùng trán phải gây đứt da, mẻ bản ngoài sọ đã được điều trị, hi n còn một sẹo kích thước 4,5x0,1cm

Có tỉ l 01% ( Một phần trăm) mỗi vết, hình ảnh đường mẻ dải khoảng 2,1cm trên phim chụp cắt lớp vi tính, tình trạng ổn định.

Có tỉ l 08% ( Tám phần trăm).

Vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

- Ch n thương gây gãy kín 1/3 giữa xương đòn phải, đã được điều trị, hi n còn hình ảnh cal xương trên phim Xquang, không còn d u vết thương tích bên ngoài, tình trạng ổn định.

Có tỉ l 06% ( Sáu phần trăm).

Ch n thương trên do vật tày, tày có cạnh tác động gây ra.

- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hi n còn :

+ Một sẹo vùng đỉnh trái kích thước 2,2x0,1cm ổn định.

Có tỉ l 01% ( Một phần trăm).

Vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc, vật tày hoặc tày có cạnh tác động gây ra.

+ Một sẹo vùng má phải kích thước 4,4x0,1cm, ổn định.

Có tỉ l 03% ( Ba phần trăm).

+ Một sẹo vùng vai phải kích thước 1,7x(0,1-0,3)cm, ổn định.

Có tỉ l 01% ( Một phần trăm).

+ Một sẹo vùng mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái kích thước 2,2x0,2cm, ổn định.

Có tỉ l 01% ( Một phần trăm).

Ba vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

Cộng các tỉ l trên theo Thông tư 22/2019/TT-BYT sẽ ra tỉ l 19% ( Mười chín phần trăm).

3. Kết luận khác:

- Các ch n thương trên không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

- Thông tư 22/2019/TT-BYT không qui định về cố tật.

Ngày 06/5/2022, Tr tâm pháp y – Sở Y tế TP.HCM có Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 335/TgT.22 ngày 06/5/2022 đối với Võ Văn Ph, kết quả như sau:

1. D u hi u chính qua giám định:

- Vết thương phần mềm vùng trán đã được điều trị, hi n còn một sẹo kích thước 0,8x0,2 cm (ảnh 1), tình trạng đã ổn định.

Có tỉ l 01% (Một phần trăm).

Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc hoặc vật tày tác động gây ra.

- Vết thương vùng mu bàn tay phải gây đứt da, đứt hoàn toàn gân duỗi ngón 2 đến 5 đã được điều trị, hi n còn:

+ Một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 16,6x(0,1-0,7)cm (ảnh 2.1).

+ Một sẹo mổ kích thước 3,3x(0,1-0,15)cm (ảnh 2.2).

+ Hạn chế duỗi cổ tay một phần do dính gân (ảnh 3).

+ Phù nề dưới vị trí vết thương trên siêu âm.

Có tỉ l 09% (Chín phần trăm).

Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ l tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:

- Tỉ l tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hi n tại là: 10% (Mười phần trăm).

3. Kết luận khác:

- T t cả các thương tích không gây nguy hiểm đến tính mạng.

- Thông tư 22/2019/TT-BYT không quy định về cố tật.

Vật chứng thu giữ:

+ 01 con dao xếp, lưỡi và cán dao đều bằng kim loại, cán dao có bọc gỗ, đầu dao sắc nhọn, dài khoảng 27cm (là con dao V dùng đâm Đinh Thế T gây thương tích).

+ 01 con dao bấm lưỡi và cán đều bằng kim loại sắc bén, đầu nhọn dài khoảng 22 cm (thu giữ của V), CQĐT đã chuyển vật chứng đến Chi cục THADS.

Về dân sự: bị hại Đinh Thế T sẽ yêu cầu bồi thường tại phiên tòa, bị hại Võ Văn Ph và Lê Chí Th đã được bồi thường nên không yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 209/CT-VKS-HM ngày 13/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Đối với các đối tượng H và V, do chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan CSĐT đang tiếp tục điều tra truy xét làm rõ đề nghị xử lý sau.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 18 giờ ngày 21/12/2021 tại quán Karaoke Galaxy địa chỉ xx ấp Mỹ Hòa 1, xã Tr Chánh, huyện Hóc Môn, Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U đã thống nhất ý chí cùng có hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Đinh Thế T với tỷ lệ tổn thương là 02%, Lê Chí Th 19%, Võ Văn Ph 10%. Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Viện Kiểm sát quyết định truy tố đối với các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U có nhân thân tốt, thể hiện việc các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục thiệt hại cho các bị hại và được các bị hại là Lê Chí Th, Võ Văn Ph có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt; Tình tiết tăng nặng: không có. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U mỗi bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 con dao xếp, lưỡi và cán dao đều bằng kim loại, cán dao có bọc gỗ, đầu dao sắc nhọn, dài khoảng 27cm (là con dao V dùng đâm Đinh Thế T gây thương tích) là hung khí gây án và 01 con dao bấm lưỡi và cán đều bằng kim loại sắc bén, đầu nhọn dài khoảng 22 cm (thu giữ của V) là hung khí có liên quan trong vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: các bị hại gồm Lê Chí Th và Võ Văn Ph đã được các bị cáo bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với bị hại Đinh Thế T trong quá trình điều tra bị hại Tr không có yêu cầu các bị cáo bồi thường và có ý kiến sẽ yêu cầu bồi thường tại phiên tòa. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại Tr vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết yêu cầu của ông Đinh Thế T bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự nếu ông Tr có đơn yêu cầu.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Chau U phát biểu ý kiến và lập luận với bản luận tội của Kiểm sát viên: Thống nhất với tội danh do vị đại diện Viện Kiểm sát truy tố theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này bị cáo Chau U do nhất thời phạm tội, bị cáo có trình độ học vấn thấp, là người dân tộc thiểu số nên không hiểu biết nhiều về quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hiện nay gia đình bị cáo Vũ đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại Lê Chí Th và Võ Văn Ph, các bị cáo đã được các bị hại là Lê Chí Th và Võ Văn Ph có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt; Tình tiết tăng nặng: không có. Từ những trình bày trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo Chau U được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật để giúp bị cáo Út có cơ hội làm lại cuộc đời.

Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai, các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo V, N, U thừa nhận khoảng 18 giờ ngày 21/12/2021 tại quán Karaoke Galaxy địa chỉ xx ấp Mỹ Hòa 1, xã Tr Chánh, huyện Hóc Môn, các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N và Chau U đã có hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Đinh Thế T với tỷ lệ tổn thương là 02%, Lê Chí Th 19%, Võ Văn Ph 10%. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U về tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Đối với các đối tượng H và V, do chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan CSĐT đang tiếp tục điều tra truy xét để tiếp tục xác minh làm rõ, khi đủ cơ sở và căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau. Do đó, theo khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án chỉ xét xử đối với các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U về hành vi theo tội danh mà Viện Kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: xét thấy các bị cáo Vũ, Nam và Út tham gia đánh nhau, dùng hung khí là dao gây thương tích đối với bị hại là do trước đó Trần Hoàng V có mâu thuẫn với Đinh Thế T, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bộc phát, hiểu nhầm, trong vụ án này mặc dù các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nhưng hành vi của các bị cáo do nhất thời phạm tội, giữa các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc, rủ rê, lôi kéo tham gia đánh nhau và Tr là người dùng tay đánh V trước. Do đó, hành vi của các bị cáo chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bằng hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng cho người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra và cần phải có hình phạt nghiêm để có giáo dục các bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để có hình phạt tương xứng.

Các bị cáo V, N và U có nhân thân tốt, thể hiện các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục thiệt hại cho các bị hại và được các bị hại là Lê Chí Th, Võ Văn Ph có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt; Tình tiết tăng nặng: không có. Với các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhưng có xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như đã nêu trên để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về dân sự: các bị hại gồm Lê Chí Th và Võ Văn Ph đã được bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với bị hại Đinh Thế T trong quá trình điều tra bị hại Tr không yêu cầu các bị cáo bồi thường và có ý kiến sẽ yêu cầu bồi thường tại phiên tòa. Tuy nhiên, Tòa án đã triệu tập ông Đinh Thế T tham gia phiên tòa nhưng ông Tr vắng mặt không rõ lý do nên ông Đinh Thế T có quyền làm đơn yêu cầu các bị cáo bồi thường bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 con dao xếp, lưỡi và cán dao đều bằng kim loại, cán dao có bọc gỗ, đầu dao sắc nhọn, dài khoảng 27cm là hung khí gây án và 01 con dao bấm lưỡi và cán đều bằng kim loại sắc bén, đầu nhọn dài khoảng 22 cm là hung khí có liên quan trong vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo V, N và U phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2/. Về điều luật áp dụng:

2.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Hoàng V 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022.

2.2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Lê N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022.

2.3. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Chau U 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2022.

3/. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao xếp, lưỡi và cán dao đều bằng kim loại, cán dao có bọc gỗ, đầu dao sắc nhọn, dài khoảng 27cm và 01 con dao bấm lưỡi và cán đều bằng kim loại sắc bén, đầu nhọn dài khoảng 22 cm.

(Các vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 173/LNK-CSĐT-HS ngày 12/8/2022 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Hóc Môn và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2022).

4/. Về trách nhiệm dân sự:

- Các bị hại gồm Lê Chí Th và Võ Văn Ph đã được bồi thường thiệt hại xong.

- Yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Đinh Thế T sẽ giải quyết bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự nếu ông Tr có đơn yêu cầu.

5/. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N, Chau U mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6/. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo Trần Hoàng V, Nguyễn Lê N và Chau U có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại Đinh Thế T, Lê Chí Th và Võ Văn Ph vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ