- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phù Trương Quốc V-tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phù Trương Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày: 28 - 8 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Kông.
2. Ông Trịnh Minh Thông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hoàng Thân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Khương Hoài Thương, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 30/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 11/8/2023 đối với bị cáo:
Phù Trương Quốc V, sinh ngày 27/02/2004; nơi sinh: KL, Kiên Giang.
Nơi cư trú: Ấp K, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Ấp K, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phù Thanh D và bà Trương Kim H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không có án tích và bị xử phạt vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ từ ngày 24/01/2023 đến ngày 01/02/2023; khởi tố tạm giam từ ngày 01/02/2023 cho đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phù Thanh D, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phù Trương Quốc V khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/01/2023 bị cáo liên lạc qua điện thoại và tìm gặp một người đàn ông tên K (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực chợ 30/4 thành phố R, tỉnh Kiên Giang để mua 03 bịch ma túy đá với giá 500.000 đồng nhằm mục đích sử dụng. Mua được ma túy bị cáo cho vào võ bao thuốc lá hiệu Jet rồi cất giấu trong túi quần Jean đang mặc phía trước bên phải rồi đi xe ôm về nhà tại ấp K, xã P. Đến khoảng 01 giờ 20 phút ngày 24/01/2023 bị cáo điều khiển xe máy nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 68FA-019.75, do ông Võ Hoàng T đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký mà bị cáo mua lại trung gian của một người phụ nữ tên T để đi đến nhà dì ruột tên Trương Kim P; cư trú tại ấp G, xã P, huyện G để xin ngủ nhờ. Đang trên đường đi bị cáo bị lượng lượng tuần tra-Công an huyện Giang Thành ra lệnh dừng xe kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản giám định số 79/KL- KTHS ngày 30/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:
Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 03 (ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2644 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Hoàn lại đối tượng giám định:
Các tinh thể màu trắng của ba bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2301 gam (đựng trong một bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 79/2023.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về kết luận giám định chất ma túy của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.
Về vật chứng vụ án thu giữ:
01. 03 (ba) bịch nylon màu trắng được hàn kín. Bên trong các bịch nylon chứa các hạt tinh thể màu trắng, kích thước không đồng nhất (nghi là ma túy). Các bịch nylon có kích thước gồm: 2,6 x 1,3cm; 2,8 x 1,3cm và 2,3 x 01cm (đã niêm phong).
02. 01 (một) ống thủy tinh rỗng hình trụ, kích thước 18,5cm (đoạn thẳng 12,5cm; đoạn cong 06cm); đường kính rộng nhất 02cm và nhỏ nhất 0,5cm (đã niêm phong).
03. 01 (một) võ bao thuốc lá màu trắng nhãn hiệu Jet (đã niêm phong).
04. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-J145F/DS màu đen (đã qua sử dụng).
05. 01 (một) xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu xanh đen, biển kiểm soát 68FA-019.75 (đã qua sử dụng).
Các vật chứng tại các mục 01, 02, 03 và 04 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang.
Vật chứng mục 05 Cơ quan Cảnh sát Điều tra-Công an huyện Giang Thành đã quyết định trả lại cho ông Phù Thanh D, là người quản lý.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSGT ngày 29/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang; Truy tố bị cáo Phù Trương Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang tiếp tục giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phù Trương Quốc V mức án từ 01 (một) năm đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Phạm Văn Tiến và dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang, gồm có: Các hạt tinh thể màu trắng của ba bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2301gam (đựng trong một bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 79/2023. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ống thủy tinh rỗng hình trụ, kích thước 18,5cm (đoạn thẳng 12,5cm; đoạn cong 06cm); đường kính rộng nhất 02cm và nhỏ nhất 0,5cm và 01 (một) võ bao thuốc lá màu trắng nhãn hiệu Jet; được niêm phong trong 01 (một) phong bì màu trắng, có chữ ký của Điều tra viên Tống Đô Gil; người chứng kiến Võ Văn Quyền và người có đồ vật bị niêm phong Phù Trương Quốc V, do không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-J145F/DS màu đen (đã qua sử dụng).
- Ghi nhận Quyết định số 01/QĐ-CQĐT ngày 08/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra-Công an huyện Giang Thành, về việc trả lại cho người quản lý tài sản là ông Phù Thanh D 01 (một) xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu xanh đen, biển kiểm soát 68FA- 019.75 (đã qua sử dụng).
- Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phù Trương Quốc V không có ý kiến tranh luận.
Người có quyền lợi liên quan ông Phù Thanh D không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Phù Trương Quốc V có lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ, vì bị cáo đã biết tội lỗi và cam kết không còn phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an huyện Giang Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Giang Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Phù Trương Quốc V hoàn toàn nhận thức được hành vi mua ma túy rồi cất giấu trong người để sử dụng là vi phạm pháp luật; phù hợp với kết luận giám định chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2644 gam; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung tại Cơ quan Điều tra (Bút lục số 01, 02, 03, 22, 55, 56, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69 và 70).
Theo Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
Như vậy, bị cáo Phù Trương Quốc V có hành vi cố ý dùng số tiền 500.000 đồng để mua ma túy tên loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2644 gam rồi cất giấu trong túi quần Jean phía trước bên phải để sử dụng là đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phù Trương Quốc V hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình; phù hợp với vật chứng và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Theo Kiểm sát viên luận tội và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 để kết tội và xử lý các vấn đề có liên quan đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng chính sách pháp luật.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; gây mất an ninh trật tự tại địa phương; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và kinh tế gia đình. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do vậy, qua thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần xử phạt tù đối với bị cáo Phù Trương Quốc V theo mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội; khi mãn hạn tù trở về không còn phạm tội.
Xét về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xét thấy bị cáo sinh sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông do bị cáo khai tên K; là người bán ma túy cho bị cáo Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện Giang Thành đang xem xét xác minh làm rõ và sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng trong vụ án:
- Đối với vật chứng là các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa bên trong 03 (ba) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2644 gam; Các tinh thể màu trắng của ba bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2301 gam (đựng trong một bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 79/2023. Đây là những vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là 01 (một) ống thủy tinh rỗng hình trụ, kích thước 18,5cm (đoạn thẳng 12,5cm; đoạn cong 06cm); đường kính rộng nhất 02cm và nhỏ nhất 0,5cm và 01 (một) võ bao thuốc lá màu trắng nhãn hiệu Jet (đều được niêm phong) là những vật không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-J145F/DS màu đen (đã qua sử dụng), do bị cáo Quốc V làm chủ sở hữu, sử dụng và dùng làm phương tiện giao dịch mua ma túy tàng trữ sử dụng, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Ghi nhận Quyết định số 01/QĐ-CQĐT ngày 08/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra-Công an huyện Giang Thành, về việc trả lại cho người quản lý tài sản là ông Phù Thanh D 01 (một) xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu xanh đen, biển kiểm soát 68FA- 019.75 (đã qua sử dụng).
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
1. Tuyên bố: Bị cáo Phù Trương Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Phù Trương Quốc V 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 24/01/2023).
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:
+ 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Phạm Văn Tiến và dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Kiên Giang, gồm có: Các hạt tinh thể màu trắng của ba bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,2301gam (đựng trong một bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì có ký hiệu số vụ 79/2023.
+ 01 (một) ống thủy tinh rỗng hình trụ, kích thước 18,5cm (đoạn thẳng 12,5cm; đoạn cong 06cm); đường kính rộng nhất 02cm, nhỏ nhất 0.5cm và 01 (một) võ bao thuốc lá màu trắng nhãn hiệu Jet; được niêm phong trong 01 (một) phong bì máu trắng, có chữ ký của Điều tra viên Tống Đô Gil, người chứng kiến Võ Văn Quyền và người có đồ vật bị niêm phong Phù Trương Quốc V, do không có giá trị sử dụng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung SM-J145F/DS màu đen (đã qua sử dụng).
Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Ghi nhận Quyết định số 01/QĐ-CQĐT ngày 08/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra-Công an huyện Giang Thành, về việc trả lại cho người quản lý tài sản là ông Phù Thanh D 01 (một) xe máy nhãn hiệu ESPERO, màu xanh đen, biển kiểm soát 68FA- 019.75 (đã qua sử dụng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và Người có liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Công an tỉnh Kiên Giang (Phòng HS); - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Giang Thành; - Chi cục THA dân sự huyện Giang Thành; - Bị cáo; - Người có liên quan. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Văn Vân |