vanban.org

Bản án 08/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 23/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phương Y phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương Y 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ giám sát giáo dục nhận được bản án và quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi giám sá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạch - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phương Y phạm tội “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-ST
Ngày 23-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hòa và bà Bùi Thị Cẩm

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hiển – Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Phương Y – sinh ngày 26 tháng 9 năm 1984 tại tỉnh Quảng Ngãi

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi

Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trường S – sinh năm 1953 và bà Lê Thị T (Đã chết); chồng: Nguyễn Xuân H (chết); con: Có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2017, 2020 bị Công an thị xã Đức Phổ xử phạt hành chính về hành vi đánh bac, đã chấp hành xong; năm 2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 20 triệu đồng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 28/12/2020. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo có luật sư Lê Hoàng H – Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên T, thuộc đoàn luật sư tỉnh Quảng Ngãi

Địa chỉ: Số B Phan Bội C, phường L, thành phố Quảng Ngãi. Có mặt

2. Đặng Thị P – sinh ngày 12 tháng 12 năm 1982 tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi

Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng M (chết) và bà Nguyễn Thị P (chết); chồng: Phan Ngọc L -sinh năm 1981; con: 01 đứa sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Năm 2020 bị Công an thị xã Đức Phổ xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong; năm 2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 40 triệu đồng về hành vi Đánh bạc, chấp hành xong ngày 18/12/2020. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Bùi Thanh M – sinh ngày 08 tháng 8 năm 1981 tại tỉnh Quảng Nam.

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi

Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi D – sinh năm 1937 và bà Đào Thị B – sinh năm 1948; chồng: Võ Huy V - sinh năm 1978; con: 03 đứa lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh 2018; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa xử lý hình sự và hành chính. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Trần Văn C – sinh ngày 14 tháng 11 năm 1983 tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn T, xã K, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi

Nghề nghiệp: Cắt tóc; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H (chết) và bà Phạm Thị S (chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa xử lý hình sự và hành chính. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Trần N - sinh năm 1963

Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 19 giờ, ngày 21/11/2022, Trần Văn C (SN: 1983, trú tại thôn T, xã K, thị xã Đ), Nguyễn Thị Phương Y (SN: 1984 trú tại TDP A, phường N, thị xã Đ) và Đặng Thị P (SN: 1982, trú tại TDP D, phường N, thị xã Đ) cùng nhau đến nhà Bùi Thanh M (SN: 1981) ở TDP A, phường N, thị xã Đ chơi. Sau đó cả 04 người cùng nhau thỏa thuận thống nhất chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm. Bùi Thanh M dẫn C, Y, P qua nhà ông Trần N (SN 1963, hiện đang sinh sống tại huyện M, Quảng Ngãi) bên cạnh nhà M (nhà này ông Trần N mua nhưng không ở mà gửi cho Bùi Thanh M trông giữ hộ). Khi qua nhà ông Trần N thì đã có sẳn 20 bộ bài (trong đó đa số các bộ đã qua sử dụng và một ít chưa sử dụng, theo trình bày của Bùi Thanh M thì trước đó vào dịp Tết nguyên đán năm 2022 bạn bè của Bùi Thanh M đến chơi bài giải trí và để lại). Vì vậy cả 04 người dùng các bộ bài này và ngồi vào bàn để đánh bạc với nhau theo thể lệ: Người về nhất thắng được số tiền 300.000 đồng (tương ứng người về nhì chung 50.000 đồng, người về ba chung 100.000 đồng, người về chót chung 150.000 đồng), ăn “gà” 1 là 50.000 đồng, “gà” 2 là 100.000 đồng, “gà” chốt hạ là 150.000 đồng, “cháy bài” thua 150.000 đồng, ù thường thắng 450.000 đồng, không chơi ù tròn và không tính quân “K”.

Khi vào sòng bạc Trần Văn C có trong người số tiền 40.590.000 đồng, C chỉ có mục đích sử dụng số tiền 1.600.000 đồng vào đánh bạc và để số tiền này trên sòng bạc ngay vị trí ngồi (số tiền còn lại 38.990.000 đồng là tiền dùng vào mục đích mua đồ dùng phục vụ việc hớt tóc, lo chi phí mua đồ Tết không dùng vào mục đích đánh bạc vì vậy C để số tiền này riêng trong ví da ở túi quần); Nguyễn Thị Phương Y có số tiền 8.750.000 đồng, nhưng Y chỉ sử dụng số tiền 1.300.000 đồng dùng đánh bạc và để số tiền này tại vị trí ngồi (còn lại số tiền 7.450.000 đồng không dùng vào mục đích đánh bạc nên Y để trong túi xách); Bùi Thanh M có số tiền 2.750.000 đồng sử dụng hết vào đánh bạc và để số tiền này ngay vị trí ngồi; Đặng Thị P có số tiền 1.340.000 đồng, nhưng P chỉ sử dụng 950.000 đồng vào đánh bạc và để tại vị trí ngồi chơi đánh bạc (số tiền 390.000 đồng không dùng đánh bạc nên bọc trong túi quần). 04 đối tượng đánh bạc với nhau đến 21 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an phường N phát hiện lập biên bản vụ việc, phối hợp với lực lượng Cơ quan điều tra Công an thị xã Đức Phổ trong tạm giữ tiền đánh bạc, các vật chứng khác phục vụ đánh bạc.

Qua điều tra có đủ căn cứ xác định tổng số tiền mà Bùi Thanh M, Nguyễn Thị Phương Y, Trần Văn C và Đặng Thị P dùng vào việc đánh bạc trái phép là 6.600.000 đồng; trong đó C sử dụng 1.600.000đồng, Y sử dụng 1.300.000đồng, M sử dụng 2.750.000đồng và P sử dụng 950.000đồng. Đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm thắng thua bằng tiền là hình thức đánh bạc nhiều người cùng đánh với nhau nên 04 bị cáo trong vụ án này phải chịu trách nhiệm hình sự chung đối với tổng số tiền đánh bạc là 6.600.000 đồng.

Cáo trạng số: 04/CT – VKS-ĐP ngày 01/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố Nguyễn Thị Phương Y, Đặng Thị P, Bùi Thanh M và Trần Văn C theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử phạt áp dụng:

- Đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương Y: Khoản 1 Điều 321, điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

- Đối với bị cáo Đặng Thị P: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Đối với bị cáo Bùi Thanh M: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng.

- Đối với bị cáo Trần Văn C: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây trong đó có 01 bộ bày tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây chưa qua sử dụng và 01 túi ni lông màu đen, bên trong có 18 bộ bài tây, trong đó 17 bộ bài tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây chưa qua sử dụng

- Tịch thu tiêu hủy 01 cái mền vải màu đà, hình chữ nhật, bốn góc bo tròn, kích thước (105x100)cm

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền dùng vào việc đánh bạc là 6.600.000 đồng

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 38.990.000đồng của bị cáo Trần Văn C để đảm bảo thi hành án. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Phương Y số tiền 7.450.000đồng và Đặng Thị P số tiền 390.000đồng.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Phương Y thống nhất với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã luận tội tuy nhiên về mức hình phạt là quá nặng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo với mức án 25 triệu đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị Phương Y, Đặng Thị P, Bùi Thanh M và Trần Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều khai nhận đã có hành vi đánh bài xác phạt nhau bằng tiền theo hình thức đánh bài phỏm tại nhà của ông Trần N. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định vào ngày 21/11/2022 các bị cáo đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm.

Theo biên bản vụ việc ngày 21/11/2022 của Công an thị xã Đức Phổ thu tại chiếu bạc số tiền 6.600.000 đồng. Hình thức đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền là hình thức đánh bạc nhiều người cùng đánh với nhau nên các bị cáo trong vụ án này phải chịu trách nhiệm hình sự chung đối với số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 6.600.000đồng. Vì vậy hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị Đức Phổ truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Phương Y, Đặng Thị P, Bùi Thanh M và Trần Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, các bị cáo không phân công nhiệm vụ, không có sự chuẩn bị phương án đối phó….. trước khi thực hiện hành vi phạm tội.

Xét các bị cáo là công dân Việt Nam có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có trình độ nhận thức về pháp luật và xã hội, biết rõ hành vi đánh bạc là một tệ nạn xã xội, vi phạm pháp luật. Nhưng do ý thức xem thường pháp luật nên đã dẫn các bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hội đồng xét xử nghị nên xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội đối với các bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương Y vào năm 2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 20 triệu đồng về hành vi đánh bạc; tuy đã được xóa án tích nhưng lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục cùng các bị cáo khác đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền. Vì vậy cần xử bị cáo với mức án nghiêm khắc và cao hơn các bị cáo khác.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang mang thai và đã tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện được các cơ quan, ban ngành tặng giấy khen, bà nội bị cáo là người có công cách mạng, hiện bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình. Vì vậy cần áp dụng các điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, tính chất, mức độ của tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo có chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Đối với bị cáo Đặng Thị P vào năm 2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 40 triệu đồng về hành vi đánh bạc. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng lẽ ra bị cáo phải tu dưỡng bản thân nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, tính chất, mức độ của tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo có chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Đối với bị cáo Bùi Thanh M và Trần Văn C có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với các bị cáo Y, P. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi của từng bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; riêng bị cáo Trần Văn C có bà nội là người có công cách mạng. Vì vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo M và áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo C để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Xét các bị cáo có nhân thân tốt được thể hiện chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, tính chất, mức độ tội phạm của các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Ngoài hình phạt chính đối với các bị cáo Nguyễn Thị Phương Y và Đặng Thị P thì cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Các bị cáo Nguyễn Thị Phương Y, Đặng Thị P không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Đối với ông Trần N là chủ của ngôi nhà mà các bị cáo đã dùng làm địa điểm đánh bạc. Ngôi nhà này ông N mua của Bùi Thanh M rồi nhờ M quản lý hộ nên ông N không biết việc các bị cáo sử dụng nhà mình để đánh bạc. Do đó không truy cứu trách nhiệm đối với ông Trần N là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây trong đó có 01 bộ bày tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây chưa qua sử dụng và 01 túi ni lông màu đen, bên trong có 18 bộ bài tây, trong đó 17 bộ bài tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây chưa qua sử dụng

- Tịch thu tiêu hủy 01 cái mền vải màu đà, hình chữ nhật, bốn góc bo tròn, kích thước (105x100)cm

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền dùng vào việc đánh bạc là 6.600.000 đồng

- Trả lại cho các bị cáo Trần Văn C số tiền 38.990.000đồng, Nguyễn Thị Phương Y số tiền 7.450.000đồng và Đặng Thị P số tiền 390.000đồng.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Phương Y, Đặng Thị P, Bùi Thanh M, Trần Văn C mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ có phần không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận. Đề nghị của người bào chữa về phần hình phạt đối với bị cáo Y không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phương Y phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương Y 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ giám sát giáo dục nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Phương Yến 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương Y

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị P phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Đặng Thị P 02(hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ giám sát giáo dục nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017. Phạt bổ sung bị cáo Đặng Thị P 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Đặng Thị P

3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh M phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Bùi Thanh M 25.000.000đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

4. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 17, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Đánh bạc”

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng)

5. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây trong đó có 01 bộ bày tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây chưa qua sử dụng và 01 túi ni lông màu đen, bên trong có 18 bộ bài tây, trong đó 17 bộ bài tây đã qua sử dụng và 01 bộ bài tây chưa qua sử dụng

- Tịch thu tiêu hủy 01 cái mền vải màu đà, hình chữ nhật, bốn góc bo tròn, kích thước (105x100)cm

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền dùng vào việc đánh bạc là 6.600.000 đồng;

- Trả lại cho các bị cáo Trần Văn C số tiền 38.990.000đồng, Nguyễn Thị Phương Y số tiền 7.450.000đồng và Đặng Thị P số tiền 390.000đồng.

Số tiền này hiện đang tạm giữ trong tài khoản số 3949.0.1043763.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tại Kho bạc Nhà nước thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Thị Phương Y, Đặng Thị P, Bùi Thanh M, Trần Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị Phương Y, Đặng Thị P, Bùi Thanh M và Trần Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ