- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS- ST Ngày: 23- 2- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Võ Thị Ngọc Mai.
2/ Bà Nguyễn Thị Bình;
-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Lĩnh- Kiểm sát viên.
Ngày 23/2/2023, tại phòng xử án- Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2023/TLST-HS, ngày 09/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 8/2/2023, đối với bị cáo:
Lê Tấn P, sinh năm 2002, tại: Bình Thuận
Nơi cư trú: Thôn X, xã SN, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Chí Tr và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 14/10/2022, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Linh . Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 14/10/2022, Công an xã Mê Pu đang tuần tra trên địa bàn. Khi đến khu vực thôn 3, xã Mê Pu phát hiện thanh niên điều khiển xe mô tô 86B8- 667.76, có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Qua kiểm tra đối tượng tên Lê Tấn P, sinh năm 2002, ở thôn 1, xã SN, huyện Đức Linh, Công an phát hiện bên trong túi quần phía trước bên phải của P có 02 bịch nylon chất tinh thể màu trắng, 01 bịch được giấu trong gói thuốc là có chữ YETT và 01 bịch được giấu trong khẩu trang y tế. Qua làm việc P khai nhận 02 bịch ny lon trên là chất ma túy. Ma túy này phát mua của một người tên P1 tại quán cà phê Dạ Lan ở xã SN vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/10/2022, 01 bịch giá 300.000 đồng và 01 bịch giá 500.000 đồng. Sau đó P đưa ma túy đến nhà người bạn tên Mẫn ở xã Mê Pu sử dụng, khi trên đường đi thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại Kết luận giám định số 1104/KL-KTHS ngày 21/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Phong bì được niêm phong còn nguyên vẹn, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thanh Toàn, K’Hiếu, Bùi Ngọc Hậu, Lê Tấn P và hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã Mê Pu, huyện Đức Linh. Trong phong bì có 02 bịch nylon được hàn kín, 01 đầu có khóa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M).
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,4569gam là Methamphetamine.
Hoàn lại đối tượng giám định: Gói nylon và 0,303 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1104, có chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bình Thuận.
Vật chứng thu giữ: Gói nylon và 0,303 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1104, có chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiếu và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bình Thuận;
Theo Cáo trạng số 05/CT-VKSĐL-HS ngày 06/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Lê Tấn P ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, giữ nguyên Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo;
-Phạt bị cáo Lê Tấn P từ 12 đến 15 tháng tù. Tịch thu vật chứng tiêu hủy.
Bị cáo P: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng là ông Lê Phú Quốc và bà Đỗ Thị Thủy. Tuy nhiên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, nên xét xử vắng mặt họ, theo Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong hồ sơ và phù hợp với vật chứng thu giữ. Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/10/2022, bị cáo Lê Tấn P, đến quán cà phê Dạ Lan thuộc xã SN, huyện Đức Linh mua của một người tên P1, hiện chưa rõ lai lịch, 02 bích ma túy, 01 bịch giá 300.000 đồng và 01 bịch giá 500.000 đồng, sau đó bị cáo đưa ma túy trên đến nhà người bạn tên Mẫn ở xã Mê Pu với mục đích để sử dụng, khi đến thôn 3, xã Mê Pu bị Công an xã Mê Pu phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Qua giám định kết luận 02 bịch ma túy thu giữ trên người bị cáo có khối lượng 0,4569 gam là chất Methamphetamine. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo thực hiện: Hành vi của bị cáo xâm phạm sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Tệ nạn nghiện ma túy đã làm cho một số thanh thiếu niên mất khả năng phấn đấu, học hành và lao động. Việc điều trị nghiện ma túy hiện nay làm tốn nhiều thời gian và vật chất của xã hội. Do đó cần thiết phải có mức án nghiêm khắc cải tạo bị cáo. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo cải tạo và cai nghiện được ma túy.
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo khai báo thành khẩn, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, phạt bị cáo mức án như đề nghị của đại diện Viện khiểm sát là phù hợp.
Vật chứng trong vụ án: Số lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1104, chữ chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiếu, đây là chất cấm lưu hành. Do đó cần tịch thu tiêu hủy theo như điểm a khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với người tên P1 như bị cáo khai là người bán ma túy cho bị cáo tại quán cà phê Dạ Lan ở xã SN, chưa rõ lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp và có căn cứ.
Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Kể từ khi tiếp nhận tin báo về tội phạm cho đến khi ban hành kết luận điều tra, Điều tra viên thực hiện hành vi tố tụng, ban hành các văn bản tố tụng đúng thẩm quyền, đúng thời hạn và đúng trình tự của Bộ luật Tố tụng hình sự; thực hiện các hoạt động điều tra đúng luật định. Đối với Kiểm sát viên trong quá trình giám sát các hoạt động ở giai đoạn điều tra thực hiện đúng thẩm quyền. Trong giai đoạn truy tố Kiểm sát viên tiến hành hoạt động tố tụng đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố không có sự khiếu nại gì.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT DỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 293, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
1. Tuyên bố: Lê Tấn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Phạt: Bị cáo Lê Tấn P 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ: ngày 14/10/2022.
2. Tịch thu tiêu hủy: Số lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1104, chữ chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiếu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/2/2023.
3. Về án phí: Lê Tấn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (23/02/2023), để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh -VKSND huyện Đức Linh -CQTHAHS, Bộ phận Hồ sơ – Công an huyện -TTLLTP-QG, Sở Tư pháp Bình thuận -Chi cục THADS huyện Đức Linh -Bị cáo, bị hại, người bào chữa (nếu có) -Lưu hồ sơ vụ án + Văn Phòng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Văn Thái |