- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật hình sự tuyên bố các; Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố các; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC TỈNH CAO BẰNG ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-ST Ngày 14/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LẠC - TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thùy Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Lầu
Ông Thẩm Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Hoa - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023 đối với:
1. Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1991.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm PM, xã CB, huyện BL, tỉnh CB;
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1969 và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1968. Vợ: Ma Thị Nh, sinh năm 1992; Con: Có 02 (Hai) con cả sinh năm 2014, con út sinh năm 2019.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2022 sau đó chuyển tạm giam, từ ngày 02/12/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Bị cáo Lương Văn M, sinh ngày 14 tháng 4 năm 1994.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm PM, xã CB, huyện BL, tỉnh CB;
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Lương Văn Kh, sinh năm 1969 và bà Nông Thị K, sinh năm 1971. Vợ: Chung Thị L, sinh năm 1995; Con: Có 01 (Một) con sinh năm 2015.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2022 sau đó chuyển tạm giam, từ ngày 02/12/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3. Bị cáo Lương Văn Q, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1995.
Nơi đăng ký đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm KG, xã CB, huyện BL, tỉnh CB;
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Lương Văn G, sinh năm 1973 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1973. Vợ: Lần Thị A, sinh năm 1995; Con: Có 01 (Một) con sinh năm 2018.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2022 sau đó chuyển tạm giam, từ ngày 02/12/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
4. Bị cáo Nguyễn Văn S, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1992.
Nơi đăng ký đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm PM, xã CB, huyện BL, tỉnh CB;
Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972 (Đã chết) và bà Lục Thị S, sinh năm 1972. Vợ: Lục Thị H, sinh năm 1990; Con: Có 02 (Hai) con cả sinh năm 2010, con út sinh năm 2015.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2022 sau đó chuyển tạm giam, từ ngày 02/12/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng Văn Đt, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Xóm PM, xã CB, huyện BL, tỉnh CB (Vắng mặt).
- Ông Ma Văn Đn, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Xóm KG, xã CB, huyện BL, tỉnh CB (Có mặt).
- Ông Lương Văn Đg, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Xóm KG, xã CB, huyện BL, tỉnh CB (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 22 giờ 45 phút ngày 19/11/2022 tại tổ dân phố 7, thị trấn BL, huyện BL, tỉnh CB tổ công tác Công an huyện Bảo Lạc đang làm nhiệm vụ thì phát hiện, bắt quả tang tại nhà của Nguyễn Văn H có một nhóm các đối tượng đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm, cá cược riêng, thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 11.200.000 đồng (Mười một triệu hai trăm nghìn đồng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng, tài sản liên quan đến vụ án; Các đối tượng gồm: Nguyễn Văn H, Lương Văn Q, Lương Văn M, Nguyễn Văn S, Hoàng Văn Đt, Ma Văn Đn; Các đối tượng đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã CB, huyện BL, tỉnh CB.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 20 giờ ngày 19/11/2022 Ma Văn Đn, Lương Văn Q, Lương Văn M, Nguyễn Văn S đến nhà Nguyễn Văn H thuộc tổ dân phố 7, thị trấn BL chơi, uống rượu. Trong quá trình uống rượu, H rủ mọi người đánh phỏm cá cược bằng tiền, tuy nhiên trong nhà không có bộ bài tú lơ khơ. Sau đó, Lương Văn Đg đến chơi và đi mua bộ bài tú lơ khơ, Đg đi mua bộ bài lơ khơ để trên bàn uống rượu và đi về.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, các đối tượng Q, M, S, H thực hiện hành vi đánh bạc cá cược bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm. Cụ thể: Người chia bài chia mỗi người 09 lá bài, người chia lấy 10 lá để đi lượt đầu, các lá bài còn lại được đặt úp ở giữa chiếu bạc. Người đầu chuyền 01 lá bài cho người bên phải, nếu người đó ăn lá bài này sẽ cầm lá bài này lên và đánh (chuyền) 01 lá bài từ bài của mình xuống cho người bên phải, nếu không ăn lá bài này sẽ bốc 01 lá bài được úp ở giữa chiếu bạc và đánh (chuyền) 01 lá cho người bên phải. Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi có người "ù" hoặc kết thúc ván bài đó. Trường hợp có người "ù" sẽ thắng ván bài đó, ba người còn lại mỗi người đưa 200.000 đồng cho người thắng. Trường hợp khi kết thúc ván bài, không có người "ù" thì tất cả mọi người so điểm, quy định quân A là 1 điểm, quân J là 11 điểm, quân Q là 12 điểm, quân K là 13 điểm, ai thấp điểm nhất thì sẽ thắng ván bài đó và được tiền cược của những người còn lại, người thấp điểm thứ 2 sẽ đưa 100.000 đồng, người thấp điểm thứ ba sẽ đưa 150.000 đồng, người thấp điểm thứ tư sẽ đưa 200.000 đồng cho người thắng.
Trong lúc H, M, Q, S đang đánh bạc thì Đn ngồi xem. Khoảng 30 phút sau thì có Đt đến chơi và xem mọi người đánh bạc. Đt và Đn thực hiện cá cược với nhau dựa trên kết quả của 04 người đánh phỏm. Tuỳ từng ván, Đt và Đn sẽ chọn một đối tượng bất kỳ để xem điểm bài, thắng hay thua phụ thuộc vào điểm của người mà Đt hoặc Đn chọn sau khi kết thúc ván bài; Nếu có người "ù" thì Đt và Đn bỏ qua ván đó. Quá trình đánh bạc Đt và Đn tự tham gia cá cược với nhau mà không tham gia với 04 người đánh phỏm.
Thời điểm bị bắt quả tang thì số tiền cá cược của Đt và Đn trên chiếu bạc là 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng); số tiền trên chiếu bạc của 04 đối tượng đánh phỏm là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
Thu giữ số tiền trên người của các đối tượng cụ thể như sau: Thu của H là 19.200.000 đồng (Mười chín triệu hai trăm nghìn đồng) không dùng vào mục đích đánh bạc; thu của Q là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) dùng vào mục đích đánh bạc; thu của S là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) không dùng vào mục đích đánh bạc; thu của Đt là 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm nghìn đồng) không dùng vào mục đích đánh bạc; thu của Đn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) không dùng vào mục đích đánh bạc và thu giữ một số tài sản khác.
Đối với ông Lương Văn Đg là người đi giúp mua bộ tú lơ khơ để các đối tượng đánh bạc, sau khi Đg mua thì Đg để bộ bài trên bàn uống nước và đi về, Đg không tham gia thực hiện hành vi đánh bạc, đo đó Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Trong vụ án này, các bị cáo H, M, Q, S đều cùng tham gia đánh bạc, không có sự bàn bạc, thỏa thuận trước, không có sự phân vai, không có tổ chức. Đối với Đt và Đn thực hiện hành vi cá cược riêng, không tham gia đánh phỏm, số tiền chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSBL ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Lương Văn M, Lương Văn Q, Nguyễn Văn S về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo như bản Cáo trạng đã nêu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi tư) tháng.
Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự phạt mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đến 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 52 lá bài tú lơ khơ.
- Sung công quỹ nhà nước số tiền 11.400.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo H: Số tiền 19.200.000 đồng (Mười chín triệu hai trăm nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 863206057791054, số Imei 2: 863206057791047; 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đã qua sử dụng, số khung: 6323KZ185257, số máy: JF63E2622613, biển kiểm soát: 11B1-408.30 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo M: 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng, số Imei 1: 359371602817076, số Imei 2: 359371602916563; 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng OPPO màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 860577048268011, số Imei 2: 860577048268003; 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ-đen đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3838MY116555, số máy: JA52E0304600, biển kiểm soát: 11B1-533.54 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Q: 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh-đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 353891109945696, số Imei 2: 353891109827621; 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng-đen đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3857MY142761, số máy: JA52E0326017, biển kiểm soát: 11L1-167.90 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo S: Số tiền 11.000.000 đồng; 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh - đen đã qua sử dụng, số khung: 1010JY006822, số máy: G3D4E771954, biển kiểm soát 11L1-106.19 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho Hoàng Văn Đt số tiền 10.400.000 đồng.
- Trả lại cho Ma Văn Đn số tiền 300.000 đồng.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc các bị cáo nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ.
Khi thực hiện hành vi các bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Đêm 19/11/2022 tại nhà của Nguyễn Văn H thuộc tổ dân phố 7, thị trấn BL, huyện BL, tỉnh CB các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm; Số tiền bị bắt quả tang trên chiếu bạc của bốn bị cáo là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc". Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân; Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo sinh sống tại huyện BL, tỉnh CB. Các bị cáo là người có sức khỏe, có nhận thức, được sống trong môi trường xã hội lành mạnh nhưng không tu dưỡng rèn luyện đạo đức. Chỉ vì ham muốn lợi ích trước mắt, muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng, không làm chủ được bản thân nên đã dẫn thân vào con đường phạm tội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Lương Văn M, Lương Văn Q, Nguyễn Văn S có nhân thân tốt, không có tiền án, không có tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần đưa ra một mức án phù hợp để giám sát giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo H phải chịu hình phạt nặng hơn các bị cáo khác vì đánh bạc ngay tại nhà bị cáo H, bị cáo H không can ngăn các bị cáo khác mà lại còn trực tiếp tham gia đánh bạc.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Đối với vật chứng là: 52 (Năm mươi hai) lá bài tú lơ khơ đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền: Thu trên chiếu bạc của các bị cáo đánh phỏm là 9.000.000 đồng, số tiền 2.200.000 đồng thu giữ của Đt và Đn cá cược riêng và 200.000 đồng thu giữ trên người Lương Văn Q sử dụng vào mục đích đánh bạc; Tổng số tiền là 11.400.000 đồng cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền thu trên người các đối tượng bao gồm: H là 19.200.000 đồng; S là 11.000.000 đồng; Đt là 10.400.000 đồng; Đn là 300.000 đồng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ số tiền này không dùng vào mục đích đánh bạc nên xét trả cho chủ sở hữu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với các bị cáo.
- Đối với vật chứng là: Các điện thoại di động và xe máy (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 14). Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ vật chứng này không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại cho từng bị cáo.
Toàn bộ vật chứng vụ án đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 14 ngày 13/01/2023.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Công văn số 206/TANDTC-PC ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân tối cao: Các bị cáo được miễn án phí theo quy định của Pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Lương Văn M, Lương Văn Q, Nguyễn Văn S phạm tội Đánh bạc.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Lương Văn M, Lương Văn Q, Nguyễn Văn S mỗi bị cáo 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã CB, huyện BL, tỉnh CB giám sát, giáo dục. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt các bị cáo Nguyễn Văn H, Lương Văn M, Lương Văn Q, Nguyễn Văn S mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp công quỹ nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 52 (Năm mươi hai) lá bài tú lơ khơ.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 11.400.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Trả lại cho Nguyễn Văn H:
+ Số tiền 19.200.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 863206057791054, số Imei 2: 863206057791047
+ 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đã qua sử dụng, số khung: 6323KZ185257, số máy: JF63E2622613, biển kiểm soát: 11B1-408.30 của Nguyễn Văn H (kèm theo chìa khóa xe).
- Trả lại cho Lương Văn M:
+ 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng, số Imei 1: 359371602817076, số Imei 2: 359371602916563;
+ 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng OPPO màu đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 860577048268011, số Imei 2: 860577048268003
+ 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ-đen đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3838MY116555, số máy: JA52E0304600, biển kiểm soát: 11B1-533.54 của Lương Văn M (kèm theo chìa khóa xe).
- Trả lại cho Lương Văn Q:
+ 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh-đen đã qua sử dụng, số Imei 1: 353891109945696, số Imei 2: 353891109827621.
+ 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng-đen đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3857MY142761, số máy: JA52E0326017, biển kiểm soát: 11L1-167.90 của Lương Văn Q (kèm theo chìa khóa xe).
- Trả lại cho Nguyễn Văn S:
+ Số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh - đen đã qua sử dụng, số khung: 1010JY006822, số máy: G3D4E771954, biển kiểm soát 11L1-106.19 (kèm theo chìa khóa xe).
- Trả lại cho Hoàng Văn Đt số tiền 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm nghìn đồng)
- Trả lại cho Ma Văn Đn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Toàn bộ vật chứng vụ án đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 14, ngày 13/01/2023.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Công văn số 206/TANDTC-PC ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân tối cao: Các bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; VKSND tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - Công an huyện, Nhà tạm giữ; - Sở Tư pháp; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - UBND xã CB, huyện BL; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÔ THỊ THÙY NGÂN |