vanban.org

Bản án 08/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Bạch Y.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST, ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành huyện D, tỉnh Trà Vinh. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Bạch Y phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Bạch Y.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HS-PT
Ngày: 14/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành

Bà Huỳnh Ái Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thoản – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

- Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Xuân Trường – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2023/TLPT-HS ngày 09/02/2023 do có kháng cáo của bị cáo Trần Thị Bạch Y đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có kháng cáo:Trần Thị Bạch Y, sinh ngày 14/9/1970, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi đăng ký thường trú: số E P, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay: khóm X, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con Trần Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết), bị cáo có chồng và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 15/6/2022 và chuyển sang tạm giam từ ngày 21/6/2022 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/6/2022, Trần Thị Bạch Y mua một túi ma túy tại phường R, thành phố V, với giá 1.000.000 đồng của một người đàn ông tên B không rõ họ, tên và địa chỉ rồi đem về nhà tại khóm X, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh chia nhỏ ra bán cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn. Khoảng 01 giờ ngày 15/6/2022, tại khóm X, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh có đối tượng Lê Anh K đến nhà Y hỏi mua ma túy sử dụng với giá 200.000 đồng thì bị lực lượng Công an vào kiểm tra và phát hiện một túi ny long màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy được để trong vỏ bánh pía trong phòng ngủ của Y nên tiến hành bắt giữ Y và tạm giữ số tang vật nói trên. Sau khi khám xét khẩn cấp chổ ở của Y, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D phát hiện và tạm giữ các đồ vật như: (1) một cân tiểu ly màu đen, trên cân có dòng chữ Aosai, cân; (2) một bậc lửa màu đỏ; (3) một cây kéo bằng kim loại, màu trắng dạng gập khúc; (4) một ống thủy tinh màu trắng; (5) một cây kéo bằng kim loại màu trắng dạng thẳng chiều dài cây kéo 16cm; (6) ba ống hút nhựa màu trắng, mỗi ống có chiều dài 21cm; (7) hai túi ny long màu trắng có kích thước 17cm x 27cm; (8) một điện thoại hiệu Nokia 105 màu đen, loại bàn phím; (9) một điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng, loại cảm ứng, đều đã qua sử dụng; (10) tiền Việt Nam 25.650.000 đồng; (11) một con gà trống 2,4kg và con gà mái 1,4kg đều đã chết. Ngoài ra, bị cáo Y còn khai nhận vào khoản 18 giờ ngày 14/6/2022 bị cáo có bán cho Lê Anh K 01 tép ma túy với giá 300.000 đồng nhưng do K không có tiền nên đưa cho bị cáo 02 con gà trị giá bằng 300.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 342/KL-KTHS ngày 20/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) túi nylon màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,4285 gam.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bạch Y phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Bạch Y 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2022.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/01/2023, bị cáo Trần Thị Bạch Y kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Trần Thị Bạch Y thừa nhận án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đúng với hành vi của bị cáo, không oan, không sai. Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Thị Bạch Y thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã nhận định. Do đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Về mức hình phạt án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra và đã xem xét đúng, đủ các tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho bị cáo theo quy định pháp luật. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Bạch Y, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị Bạch Y, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Thị Bạch Y khai nhận đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cụ thể bị cáo đã mua ma túy tại thành phố V với giá 1.000.000 đồng sau đó đem về nhà tại khóm X, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh để bán. Vào ngày 15/6/2022 bị cáo đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho một người tên Lê Anh K với giá 200.000 đồng thì bị lực lượng công an đến kiểm tra. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận trước đó vào ngày 14/6/2022 bị cáo đã bán ma túy cho K được quy đổi bằng một con gà trống 2,4 kg và con gà mái 1,4 kg tổng giá trị 300.000 đồng.

Lời khai của bị cáo Trần Thị Bạch Y tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng xác định lời khai tại cơ quan điều tra do bị cáo tự khai, không bị ai ép buộc, dùng nhục hình hay bị xúi giục, dụ dỗ, do đó có đủ cơ sở xác định lời khai của bị cáo là khách quan, các văn bản cơ quan tiến hành tố tụng ban hành được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi vì mục đích bán kiếm lời. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo hoàn toàn có đủ sức khỏe để tự lao động tạo ra nguồn thu nhập, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà trực tiếp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đặc biệt xấu đến sức khỏe, khả năng lao động của con người, đồng thời là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người nhưng bị cáo vẫn cố tình tìm mua ma túy để về bán lại cho người khác, hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật. Để đáp ứng cho yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy đang gia tăng phức tạp tại địa phương hiện nay và để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian tự cải tạo thì cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời đáp ứng được niềm tin và lòng mong muốn của nhân dân địa phương đối với pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015; sau khi bị bắt phạm tội quả tang thì bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội trước đó, đây là tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng Tòa án không áp dụng cho bị cáo là thiếu sót. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 07 năm tù (mức khởi điểm của khung hình phạt) là phù hợp dựa trên việc xem xét đánh giá một cách toàn diện, khách quan tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy mới có thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm “Mua bán trái phép chất ma túy” đáp ứng được niềm tin và lòng mong muốn của nhân dân địa phương đối với pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Bạch Y. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, quy định pháp luật và nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều đúng với quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì đối với các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Trần Thị Bạch Y không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo Trần Thị Bạch Y phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thị Bạch Y.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST, ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Bạch Y phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Bạch Y 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/6/2022.

Về án phí phúc thẩm: Buộc bị cáo Trần Thị Bạch Y nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không sửa đổi đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ