- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Đăng K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Đăng K, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Lào Cai như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HS-PT Ngày 21/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phi Long;
Các Thẩm phán: Ông Vũ Minh Quán và ông Phùng Lâm Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hằng - Thư Ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 21/3/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2023/TLPT-HS ngày 10/02/2023 đối với bị cáo Đoàn Đăng K do có kháng cáo bị cáo Đoàn Đăng K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Lào Cai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đoàn Đăng K (Tên gọi khác: Không).
Sinh ngày: 13 tháng 6 năm 1978, tại huyện T, tỉnh Lào Cai;
Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã T1, thành phố C, tỉnh Lào Cai.
Nơi tạm trú: Tổ 8, Phường T2, thành phố C, tỉnh Lào Cai;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Đoàn Văn T3 (đã chết), con bà Lê Thị V,
Có vợ là Phạm Thị T4 và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 23/9/2022 đến ngày 24/10/2022 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 26/07/2022 Đoàn Đăng K SN 1978 trú tại thôn Muồng, xã Thống Nhất, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai điều khiển xe ô tô tải BKS: 24C-112.46 chở theo Phạm Thị T4 SN 1990 (là vợ của K) ngồi ở ghế phụ đi từ xã Lang Thíp, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đi theo đường tỉnh lộ đến xã H, huyện Y, tỉnh Lào Cai. Khi đến ga H thì K điều khiển xe ô tô đi theo hướng QL 279 hướng xã H, huyện Y đi huyện Văn Bàn để về nhà tại thành phố Lào Cai. Khoảng 22 giờ cùng ngày khi gần đến km 89+800 QL 279 (thuộc địa phận bản Lâm Sản, xã H, huyện Y, tỉnh Lào Cai) thì xe ô tô tải BKS: 24C-112.46 do K điều khiển đi lấn sang một phần đường ngược chiều đâm vào anh Vù Seo L (là người khuyết tật đặc biệt nặng) đang nằm, bò trườn trên phần đường bên trái hướng xã H đi Văn Bàn. Lúc này K nghe thấy tiếng va chạm dưới gầm xe thì điều khiển giảm tốc độ xe tiếp tục chạy khoảng 30m thì dừng xe lại. K ngồi trên xe, còn chị T4 xuống xe kiểm tra phát hiện anh L bị mắc mắc dưới gầm ba đờ sốc của xe ô tô, chị T4 kêu lên “Anh ơi có người kẹt đầu xe mình rồi”, lúc này K điều khiển xe lùi lại 01 m sau đó tắt máy, xuống xe đưa anh L đi cấp cứu tại Bệnh viện đa K tỉnh Lào Cai, đến ngày 08/8/2022 anh Vù Seo L chết do đa chấn thương. Hậu quả vụ tai nạn: anh Vù Seo L tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường cho thấy: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường có mặt đường rộng 9,10m. Lề đường bên phải theo hướng Y đi Văn Bàn rộng 0,5m, lề đường bên trái theo hướng Y đi Văn Bàn rộng 0,5m. Sau khi xảy ra tai nạn xe ô tô BKS 24C-112.46 đỗ tại hiện trường trên phần đường bên phải theo hướng Y – Văn Bàn (quy ước mép đường bên phải theo hướng Y đi Văn Bàn làm mép đường chuẩn), đầu xe hướng Văn Bàn, đuôi xe hướng Y, trục bánh trước cách mép đường chuẩn 3,13m; trục bánh sau cách 3,3m, trục bánh trước bên trái cách điểm cuối vết rê lốp là 3,15m. Vết rê lốp mài trượt màu đen (vị trí số 1) kích thước 30,3m x 14 cm in hằn trên phần đường bên trái theo hướng Y đi Văn Bàn, điểm đầu vết số (1) cách mép đường chuẩn 5,40m; điểm cuối vết số (1) rộng 2 cm ở phía trước đầu xe ô tô BKS: 24C-112.46 cách mép đường chuẩn 4,4m. Tiếp đến là đám máu, áo, túi, bao tải kích thước 1,44 x 1,1m. Đám máu trên mặt đường nhựa trên phần đường bên phải theo hướng Y đi Văn Bàn, trước phần đầu xe ô tô BKS: 24C-112.46, cách mép đường chuẩn 3,8m; cách trục bánh trước bên phải xe ô tô là 2,4m.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 85/GĐPY ngày 08/9/2022 của Trung tâm pháp y - tỉnh Lào Cai kết luận nguyên nhân tử vong của Vù Seo L: Ngừng hô hấp ngừng tuần hoàn do đa chấn thương (tụ máu nội sọ, gãy xương hàm dưới, gãy xương đùi phải).
Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Lào Cai đã quyết định:
Tuyên bố Đoàn Đăng K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Đăng K 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 23 tháng 9 năm 2022 đến ngày 23 tháng 10 năm 2022.
Ngày 03/01/2023, bị cáo Đoàn Đăng K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đoàn Đăng K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y theo hướng giữ nguyên hình phạt 01 năm 06 tháng tù và cho bị cáo Đoàn Đăng K được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cấp sơ thẩm, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ để xác định:
Tối ngày 26/7/2022, tại km 89+800 QL 279 (thuộc địa phận bản Lâm Sản, xã H, huyện Y, tỉnh Lào Cai), bị cáo Đoàn Đăng K đã điều khiển xe ô tô tải BKS: 24C-112.46 đi lấn sang một phần đường ngược chiều và thiếu quan sát nên đã đâm vào anh Vù Seo L là người khuyết tật đang bò trườn trên đường. Hậu quả, làm anh Vù Seo L tử vong.
Hành vi của bị cáo Đoàn Đăng K đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định”
Vì vậy, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn Đăng K xin rút kháng cáo đối với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Đối với kháng cáo xin hưởng án treo
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ.
Bản án sơ thẩm đã xác định bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, theo xác nhận của UBND xã H, bị hại Vù Seo L là người khuyết tật vận động, mức độ đặc biệt nặng. Do đó, cấp sơ thẩm xác định bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội đối với người người khuyết tật đặc biệt nặng” theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đoàn Đăng K 01 năm 06 tháng tù giam.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo Điều 8 của Luật người khuyết tật, quy định gia đình người khuyết tật phải có trách nhiệm bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật. Tại Điều 41 Luật người khuyết tật, người khuyết tật khi tham gia giao thông phải có các phương tiện giao thông cá nhân đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và phù hợp với sức khỏe của người khuyết tật. Tuy nhiên, là người khuyết tật đặc biệt nặng, nhưng khi anh L tham gia giao thông vào thời điểm đêm tối, không có người chông nom, không sử dụng phương tiện hỗ trợ phù hợp với sức khỏe mà trực tiếp anh L trườn, bò trên mặt đường, điều này thể hiện sự thiếu trách nhiệm của gia đình và bản thân người bị hại. Vì vậy, xác định nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi từ phía bị hại và gia đình bị hại nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm áp dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, hậu quả pháp lý của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bản thân bị cáo không thể biết bị hại là người khuyết tật đặc biệt nặng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với người khuyết tật đặc biệt nặng” đối với bị cáo Đoàn Đăng K là không đúng.
Từ những phân tích trên xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm có sai sót trong việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng thiếu tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Đoàn Đăng K. Tuy nhiên, mức án 01 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết của bị cáo.
Xét thấy, bị cáo Đoàn Đăng K có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực đưa bị hại đi cấp cứu, thăm hỏi, bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại, gia đình bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo đối với bị cáo và thể hiện tính Kn hồng của pháp luật. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Đăng K về việc xin hưởng án treo.
Về án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đoàn Đăng K.
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Đăng K, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Lào Cai như sau:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Đăng K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đoàn Đăng K 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đoàn Đăng K cho Ủy ban nhân dân phường Xuân Tăng, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự;
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đoàn Đăng K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lào Cai; - Sở Tư pháp; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Lào Cai; - CQTHAHS CA H.Y; - CQĐT CA H.Y; - TAND H.Y; - VKSND H.Y; - Chi cục THADS H.Y; - Bị cáo; - UBND phường Xuân Tăng; - Lưu hồ sơ – AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Phi Long |