- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa ông Nguyễn X và bà Nguyễn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn X đối với bà Nguyễn H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06/02/2023 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V,
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Thị Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tám
Bà Ngô Thị Thúy Hảo
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 877/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/QĐST-HPT ngày 02 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn X (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn H (vắng mặt lần thứ 2 không có lý do)
Cùng hộ khẩu thường trú và địa chỉ hiện nay: đường K, phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình làm việc nguyên đơn ông Nguyễn X trình bày:
Ông và bà Nguyễn H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2003, có tổ chức đám cưới, được hai bên gia đình đồng ý và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân A, tỉnh Hà Tĩnh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại đường K, phường B, thành phố V nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng ông thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau, bà H thường xuyên vắng nhà, bà không chăm lo cho chồng và các con; ông X không biết bà H ra ngoài làm gì, bà cũng không nói cho ông biết, cuộc sống sinh hoạt vợ chồng không còn gắn kết. Mâu thuẫn của vợ chồng ông đã ở mức trầm trọng không thể hàn gắn được. Hiện nay ông và bà H đã sống ly thân. Nay, ông xét thấy tình cảm tìnm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn H.
Về con chung: Ông và bà H có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn C, sinh ngày 02/4/2005 và cháu Nguyễn D, sinh ngày 23/8/2014. Ông yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và cháu C, ông không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Do công việc của ông X không thể xin nghỉ làm nên ông X làm Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông X có Đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên tòa là có lý do chính đáng; bà H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến làm việc, vắng mặt 02 (hai) lần không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông X và bà H là phù hợp quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố V. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Ông Nguyễn X yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn H có địa chỉ đăng ký thường trú tại thành phố V. Căn cứ Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn có Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn X và bà Nguyễn H là phù hợp quy định pháp luật.
. Về nội dung:
Ông Nguyễn X và bà Nguyễn H tự nguyện tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét về tình trạng hôn nhân giữa ông X và bà H thì thấy: Theo ông X thì nguyên nhân mâu thuẫn là thuẫn vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bà H thường xuyên vắng nhà, bà không chăm lo cho chồng và các con; ông X không biết bà H ra ngoài làm gì, bà cũng không nói cho ông biết, cuộc sống sinh hoạt vợ chồng không còn gắn kết. Từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng. Hiện nay, ông X và bà H đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc đến nhau.
Theo xác minh tại địa phương cho biết: Quá trình ông X và bà H sinh sống tại địa phương có phát sinh nhiều mâu thuẫn và ông X có báo cho chính quyền địa phương biết; hiện nay bà H không chung sống cùng ông X nhưng vẫn thường xuyên đi về thăm các con.
Xét thấy, mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ vợ chồng giữa ông là có thật, vợ chồng cũng cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không có khả năng hàn gắn tình cảm. Do vậy, mâu thuẫn hôn nhân là trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông X là phù hợp.
Về con chung: Ông Nguyễn X và bà Nguyễn H có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn C, sinh ngày 02/4/2005 và cháu Nguyễn D, sinh ngày 23/8/2014. Ông X yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu cháu D và cháu C, ông X không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con. Nguyện vọng của cháu D và cháu C là được sống cùng ông X; để tránh cuộc sống hiện tại của các con chung không bị xáo trộn, không làm ảnh hưởng đến tâm lý và việc học tập của các cháu, nên cần tiếp tục giao cháu D và cháu C cho ông X được quyền nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về án phí: Ông Nguyễn X phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19; Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn X đối với bà Nguyễn H.
1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn X ly hôn với bà Nguyễn H.
2. Về con chung: Ông Nguyễn X và bà Nguyễn H có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn C, sinh ngày 02/4/2005 và cháu Nguyễn D, sinh ngày 23/8/2014. Giao cháu D và cháu C cho ông X được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, ông X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con. Sau khi ly hôn, bà Nguyễn H được quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Ông Nguyễn X phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003236 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Tp.V; - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp.V; - Các đương sự; - UBND phường B, Tp.V; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thường |