vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị D ly hôn với ông Phan Ngọc S.

Về quan hệ con chung: Giao ba con chung là Phan Ngọc Vạn Ph - sinh ngày 05/12/2008; Phan Ngọc Trân Ch - Sinh ngày 13/8/2012 và Phan Ngọc Minh Ph - Sinh ngày 31/10/2019 cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con. Các bên vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con chung; … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Diễm và Phan Ngọc Sư"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị D ly hôn với ông Phan Ngọc S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-3-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Duy Thảo

Ông Trịnh Hồng Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Minh Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/02/2023 và Quyết định hoãn phiên toà ngày 10/3/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị D - sinh năm: 1985; Có mặt

Trú tại: 02 Tr, phường Hoà Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Lê Thị D là bà Phan Thị Tiên – Luật sư thuộc Công ty luật CTT và cộng sự. Vắng mặt

Bị đơn: Ông Phan Ngọc S - sinh năm: 1985; Vắng mặt

Trú tại: 02 Tr, phường Hoà Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Lê Thị D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phan Ngọc S kết hôn với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Thời gian đầu sống hạnh phúc nhưng thời gian sau này thì sống không hợp nên phát sinh nhiều mâu thuẫn sự việc kéo dài đến nay tôi không còn tình cảm gì với ông Phan Ngọc S nên xin được ly hôn.

- Về con chung: Bà Lê Thị D xác định bà và ông Phan Ngọc S có ba con chung là Phan Ngọc Vạn Ph - Sinh ngày 05/12/2008; Phan Ngọc Trân Ch - Sinh ngày 13/8/2012 và Phan Ngọc Minh Ph - Sinh ngày 31/10/2019. Ly hôn, bà D có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Tự thoả thuận.

*Về phía bị đơn ông Phan Ngọc S trình bày: Ông xác nhận thời gian kết hôn và thời gian chung sống như bà D khai là đúng nhưng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng chưa trầm trọng có thể hàn gắn lại được với nhau nên không đồng ý ly hôn mà mong bà D suy nghĩ lại để vợ chồng về lo làm ăn nuôi dạy con cái nên người nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Phan Ngọc S vẫn vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Lê Thị D là bà Phan Thị Tiên – Luật sư của Công ty luật TNHH MTV CTT và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng. có đơn xin vắng mặt tại phiên toà hôm nay nhưng có gửi bản luận cứ bào chữa trình bày ý kiến đề nghị HĐXX xem xét cho bà Lê Thị D ly hôn với ông Phan Ngọc S. Về con chung: Giao ba con chung là Phan Ngọc Vạn Ph - sinh ngày 05/12/2008; Phan Ngọc Trân Ch - Sinh ngày 13/8/2012 và Phan Ngọc Minh Ph

- Sinh ngày 31/10/2019 cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của đương sự, xác minh, thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 71, Điều 80, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình đề nghị HĐXX chấp nhận cho bà Lê Thị D được ly hôn với ông Phan Ngọc S; giao 03 con chung Phan Ngọc Vạn Ph - sinh ngày 05/12/2008; Phan Ngọc Trân Ch - Sinh ngày 13/8/2012 và Phan Ngọc Minh Ph - Sinh ngày 31/10/2019 cho bà Lê Thị D trực tiếp nuôi dưỡng; ông Phan Ngọc S không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Lê Thị D khởi kiện về “Ly hôn, nuôi dưỡng con chung” đối với bị đơn là ông Phan Ngọc S có địa chỉ cư trú tại 02 Tr, phường Hoà Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đầ Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng tại phiên tòa đối với bị đơn ông Phan Ngọc S nhưng ông S vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

*Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị D và ông Phan Ngọc S đã tuân thủ đầy đủ các quy định về kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nay bà D xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được mục đích nên yêu cầu ly hôn với ông S.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy: Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “…Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình..." Theo đó, mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi cả vợ và chồng cùng có ý thức và trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, theo xác minh tại nơi cư trú thể hiện ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn chính quyền địa phương có hoà giải, nhắc nhở. Đồng thời, trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức hòa giải tạo điều kiện để vợ chồng ông bà trở về đoàn tụ nhưng ông Phan Ngọc S không có mặt tại Toà án thể hiện ông không có thiện chí hay có biện pháp gì để xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, nguyện vọng xin được ly hôn để không ràng buộc bởi quan hệ pháp lý của bà Lê Thị D là chính đáng và có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quan hệ con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lê Thị D xác định bà và ông Phan Ngọc S có ba con chung là Phan Ngọc Vạn Ph - sinh ngày 05/12/2008; Phan Ngọc Trân Ch - Sinh ngày 13/8/2012 và Phan Ngọc Minh Ph - Sinh ngày 31/10/2019. Ly hôn, bà D có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của nguyên đơn và trình bày của bị đơn thì thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện kinh tế của mỗi bên cũng như xem xét tới quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Hiện các con chung vẫn đang được bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và các con còn nhỏ. Các con đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Bà D đủ khả năng tài chính nuôi các con nên không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc xem xét cho bà D được ly hôn với ông S, về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung phù hợp như nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐ-ST là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, 56, 71, 80, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị D ly hôn với ông Phan Ngọc S.

2. Về quan hệ con chung: Giao ba con chung là Phan Ngọc Vạn Ph - sinh ngày 05/12/2008; Phan Ngọc Trân Ch - Sinh ngày 13/8/2012 và Phan Ngọc Minh Ph - Sinh ngày 31/10/2019 cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Các bên vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con chung; vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

5. Án phí HNGĐ-ST: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Lê Thị D phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002972 ngày 10/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đầ Nẵng. Bà D đã nộp đủ án phí HNGĐ sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Phan Ngọc S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Người tham gia tố tụng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND quận Thanh Khê;

- Chi cục THADS Q. Thanh Khê;

- UBND phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Giấy CNKH số: 05 ngày 09/01/2008);

- Lưu Hồ sơ vụ án.

Trần Văn Hậu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 9 năm 2017.

Tại: Phòng Nghị án Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Phước

2. Ông Đỗ Xuân Phi

Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 352/2017/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2017 về "Ly hôn" giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Yến Huyền, sinh năm: 1975; Địa chỉ: 07 Lê Lâm, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Lợi, sinh năm: 1975; Địa chỉ: K95/2 Trần Cao Vân, phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt không có lý do).

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Yến Huyền đối với ông Nguyễn Hữu Lợi.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về quan hệ con chung: Giao hai con chung Nguyễn Hữu Thuận, sinh ngày: 29.9.2003 và Nguyễn Trần Bảo Phước, sinh ngày: 19.9.2007 cho bà Trần Thị Yến Huyền trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Hữu Lợi không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Các bên vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Yến Huyền xác định bà và ông Nguyễn Hữu Lợi không có tài sản chung nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Về nợ chung: Bà Trần Thị Yến Huyền xác định bà và ông Nguyễn Hữu Lợi không có nợ chung nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

5. Án phí HNGĐ-ST: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị Yến Huyền phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Huyền đã nộp tại biên lai thu số 7361 ngày 03.7.2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng. Bà Trần Thị Yến Huyền đã nộp đủ án phí.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

6. Về quyền kháng cáo:

- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc) niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 40 phút, ngày 29 tháng 9 năm 2017.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Xuân Phi

Nguyễn Hữu Phước

Trần Văn Hậu

Cỡ chữ