- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Bình Hoà
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày 09 – 01 – 2023 V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thái Thơ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Phục
Ông Nguyễn Thành Quyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Chi – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên
Trong ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 506/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 119/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Bình H, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt)
Bị đơn: Lê Thị T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Bình H trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống có 01 đứa con chung là Nguyễn Lê Yến N, sinh ngày 23/5/2015, giới tính nữ.
Trong thời gian chung sống giữa hai vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng trong cuộc sống, không còn quan tâm như trước, mỗi người đều có hướng đi riêng, không quan tâm chia sẽ trong mọi việc, từ đó tình cảm vợ chồng ngày một phai nhạt, đời sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nguyên đơn đã nhiều lần hàn gắn tình nghĩa vợ chồng nhưng tất cả đều không thành, từ năm 2020 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay.
Nay xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: sau khi ly hôn nguyên đơn đề nghị giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lê Thị T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: việc tuân theo pháp luật của tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Các vấn đề khác giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: anh Nguyễn Bình H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lê Thị T và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về thẩm quyền xét xử: Bị đơn Lê Thị T có địa chỉ ở ấp T, xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Bình Hoà và chị Lê Thị T đăng ký kết hôn vào ngày 20/3/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp. Theo đơn khởi kiện nguyên đơn cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Bị đơn chị Lê Thị T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản đối với lời trình bày của nguyên đơn. Do đó, có cơ sở để khẳng định mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: cháu Nguyễn Lê Yến N có nguyện vọng sống với mẹ và hiện đang sống chung với chị Lê Thị T. Xét thấy, nguyên đơn cũng đồng ý việc giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng. Do vậy, cần phải giao cháu Yến N cho bị đơn tiếp tục nuôi dưỡng để đảm bảo tốt nhất quyền lợi và môi trường sinh sống ổn định của cháu.
Về cấp dưỡng: do nguyên đơn không yêu cầu nên Toà án chưa xem xét.
Tài sản chung, nghĩa vụ chung: Đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 21, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Bình Hoà
1. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Bình H được ly hôn với chị Lê Thị T
2. Về con chung: chị Lê Thị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Lê Yến N, giới tính nữ, sinh ngày 23/5/2015. Anh Nguyễn Bình H chưa phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chưa có yêu cầu. Anh Nguyễn Bình H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không xem xét, giải quyết do không có yêu cầu.
4. Về án phí: Buộc nguyên đơn anh Nguyễn Bình H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0008374 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện PH, anh Nguyễn Bình H không phải nộp thêm.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- VKSND H PH;
- Chi cục THADS H PH;
- UBND xã nơi ĐKKH;
- Đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án.
Hà Thái Thơ
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Quyến
Bùi Văn Phục
Hà Thái Thơ
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H PH; - Chi cục THADS H PH; - UBND xã nơi ĐKKH; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Thái Thơ |