vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị H ly hôn anh Phạm Quang T.

Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con là: Phạm Quân B, sinh ngày 25/6/2013 và Phạm Tùng Ch, sinh ngày 02/9/2016 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chấp nhận sự tự nguyện của chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Phạm Quang T phải thự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vũ Thị H xin ly hôn anh Phạm Quang T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị H ly hôn anh Phạm Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14-4-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Huy Điệu;

2. Ông Triệu Ngọc Vạn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2022/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1988; nơi đăng ký HKTT: Thôn X, xã A, huyện Gi, tỉnh Hải Dương; hiện trú tại: Thôn Ng, xã A, huyện Gi, tỉnh Hải Dương (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Phạm Quang T, sinh năm 1990; trú tại: Thôn X, xã A, huyện Gi, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

3. Người làm chứng

- Ông Phạm Văn Ng (vắng mặt);

- Bà Phạm Thị Nh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc nguyên đơn – chị H trình bày: Chị và anh Phạm Quang T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được Uỷ ban nhân dân (UBND) xã A, huyện Gi tổ chức đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 31/7/2012. Sau khi kết hôn, hai người sống cùng gia đình anh T tại xã A, huyện Gi; cuộc sống chung giữa hai người chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính nết, quan điểm sống giữa hai người không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Năm 2018, do mâu thuẫn nên chị về sống cùng bố mẹ đẻ tại thôn Ng, xã A, còn anh T đi ra ngoài làm ăn thỉnh thoảng mới về. Từ năm 2018 đến nay anh chị không gặp gỡ, quan tâm đến nhau, chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không còn hạnh phúc nên khởi kiện xin ly hôn.

Về quan hệ con chung: Anh chị có 02 con chung là Phạm Quân B, sinh ngày 25/6/2013 và Phạm Tùng Ch, sinh ngày 02/9/2016, các con đang ở cùng chị. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cả hai con cho chị trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con. Hiện chị làm việc cho một công ty nước ngoài, thu nhập ổn định hơn 11 triệu/tháng, được bố mẹ đẻ hỗ trợ về chỗ ở và chăm sóc con nên chị đủ điều kiện để nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn - anh Phạm Quang T: Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập anh T đến làm việc, tham gia phiên họp, phiên tòa song anh đều vắng mặt không có lý do.

Tại lời khai của ông Phạm Văn Ngh là bố đẻ của anh T trình bày: Về quá trình kết hôn, thời gian chung sống, con chung giữa anh T và chị H đúng như chị H trình bày, còn nguyên nhân mâu thuẫn ông xác định là do năm 2018 chị H có dấu hiệu quan hệ thiếu chung thuỷ với anh T dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, anh T bỏ đi làm ăn bên ngoài, thỉnh thoảng mới về, hai người không gặp gỡ, quan tâm đến nhau. Nay chị H khởi kiện xin ly hôn, ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Toàn bộ các giấy tờ, thông báo, triệu tập anh T đến Toà án làm việc ông đều thông báo cho anh T biết nhưng do công việc bận anh không về làm việc được.

Bà Phạm Thị Nh là mẹ đẻ chị H trình bày: Quá trình kết hôn, thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung giữa anh T và chị H đúng như chị H trình bày. Bà đề nghị Toà án giải quyết cho chị H ly hôn anh T theo nguyện vọng của chị H, hiện ba mẹ con chị H ở cùng bà, anh T không quan tâm gì đến các con, bà cam kết hỗ trợ, giúp đỡ chị H về chỗ ở và trông nom, chăm sóc các con.

Tại biên bản xác minh, chính quyền địa xã A cung cấp: Địa phương xã A xác định hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp, quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, hai người sống ly thân đã lâu, đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu xin ly hôn theo nguyện vọng của chị H và giao cả hai con cho chị H nuôi dưỡng để các cháu có điều kiện phát triển tốt nhất.

Tại phiên Tòa: Chị H, anh T đều vắng mặt, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh T; đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Ngoài ra, chị không có yêu cầu, đề nghị nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang có quan điểm xác định việc Tòa án thụ lý, quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 21; Điều 147, các điều 227, 228, 232, 238, 262 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị H ly hôn anh Phạm Quang T; giao cả hai con cho chị H nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị H không buộc anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con; chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập anh T đến làm việc, tham gia phiên họp, phiên tòa song anh đều vắng mặt không có lý do; chị H đề nghị không tiến hành hòa giải; Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai song bị đơn - anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; chị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại các điều 207, 227 và Điều 228 BLTTDS.

Chị Vũ Thị H và anh Phạm Quang T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã A, huyện Gi nơi sinh sống của anh chị tổ chức đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn không vi phạm điều cấm của pháp luật nên hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp.

Năm 2018, do vợ chồng mâu thuẫn chị H bỏ về sống cùng bố mẹ đẻ, anh T bỏ đi làm ăn, hai người không gặp gỡ, quan tâm đến nhau. HĐXX thấy rằng, tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau..Như vậy, việc anh chị không chung sống cùng nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau từ năm 2018 đến nay đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự, HĐXX căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H ly hôn anh T.

Về quan hệ chung: Anh chị có 02 con là Phạm Quân B, sinh ngày 25/6/2013 và Phạm Tùng Ch, sinh ngày 02/9/2016, các con đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cả hai con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T phái cấp dưỡng cho con. HĐXX thấy rằng, hiện anh T làm nghề tự do ở bên ngoài, thỉnh thoảng mới về, không có điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc con; chị H làm việc cho một công ty nước ngoài có trụ sở gần nhà, có thu nhập ổn định hơn 11 triệu/tháng, được bố mẹ đẻ hỗ trợ về chỗ ở và chăm sóc con. Mặt khác, kể từ khi anh chị sống ly thân (năm 2018), chị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc các con, cháu Phạm Tùng Ch hiện còn nhỏ, cháu Phạm Quân B có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn, nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, HĐXX giao cả hai con cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc; chấp nhận sự tự nguyện của chị không yêu cầu anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Về quan hệ tài sản chung: Do không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết, nếu sau này các bên có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị Vũ Thị H khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; các điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về…án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Vũ Thị H ly hôn anh Phạm Quang T.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con là: Phạm Quân B, sinh ngày 25/6/2013 và Phạm Tùng Ch, sinh ngày 02/9/2016 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chấp nhận sự tự nguyện của chị Vũ Thị H không yêu cầu anh Phạm Quang T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Anh Phạm Quang T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), được đối trừ với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0000246 ngày 08 tháng 11 năm 2022.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ