- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị H - Lù Văn T"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 08/2023/HNGD-ST Ngày 08 tháng 02 năm 2023 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lê Quốc Cường
2. Bà: Bùi Thị Việt Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Trí Giáp – Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 16 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm 1989 Nơi cư trú: Bản CC, xã ĂT, huyện MA, tỉnh Điện Biên. (Có mặt).
Bị đơn: Anh Lù Văn T, sinh năm 1992 Nơi cư trú: Bản CC, xã ĂT, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam TC cục C10 xã CT1, huyện CT, tỉnh Thanh Hoá (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 25/8/2022; tại bản tự khai ngày 14/10/2022 nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:
* Về hôn nhân: Chị H và anh T có đăng kí kết hôn vào ngày 01/3/2016 tại UBND xã ĂT, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trước khi lấy nhau hai bên tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Sau khi cưới chị và anh T chuyển về sinh sống tại bản CC, xã ĂT, huyện MA, tỉnh Điện Biên hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn giữa chị và anh T ngày càng xấu đi mặc dù đã được gia đình hai bên và chính quyền địa phương hoà giải nhưng không thành. Từ đầu năm 2022 đến nay anh T đi chấp hành án tại Đội 29 Phân trại K2 trại giam 06 Cục C10, xã CT, huyện CT, tỉnh Thanh Hoá. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng giải quyết giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lù Văn T.
* Về con chung: Trong quá trình chung sống chị và anh T có 02 người con chung là cháu Lù Văn Hô, sinh ngày 27/12/2009 và cháu Lù Đức Đ, sinh ngày 05/2/2016. Hiện 02 cháu đang ở cùng với chị H tại bản CC, xã ĂT, huyện MA. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn là chị được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hô và cháu Đ cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Chị và anh T không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa ngày hôm nay chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lù Văn T; chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có như nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai chị đã trình bày.
* Bị đơn: Theo nội dung Bản tự khai của anh Lù Văn T ngày 14/11/2022. Anh T trình bày:
Về hôn nhân: Anh Lù Văn T và chị Lò Thị H đã đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã ĂT, huyện MA, tỉnh Điện Biên vào năm 2016 ttrên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T nghiện chất ma tuý. Đến nay chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T thì anh T không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh T và chị H có 02 người con chung là cháu Lù Văn Hô, sinh ngày 27/12/2009 và cháu Lù Đức Đ, sinh ngày 05/2/2016. Nguyện vọng của anh T giải quyết quyền nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung thu về: Anh T và chị H không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành xác minh nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của anh Lù Văn T; xác minh nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn của chị H và anh T và xác minh điều kiện kinh tế của chị Lò Thị H.
Trong quá trình thụ lý giải quyết chị H có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải.
* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Tuyên bố chị Lò Thị H được ly hôn anh Lù Văn T.
- Con chung: Giao cháu Lù Văn Hô, sinh ngày 27/12/2009 và cháu Lù Đức Đ, sinh ngày 05/2/2016 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Chị và anh T không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Án phí: Chị H là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án nên miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Ngày 11/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án và đã có Công văn nhờ trại giam Trại giam Thanh Cẩm cục C10 tống đạt và anh Lù Văn T đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án. Hết thời hạn 15 ngày Bị đơn – Anh Lù Văn T có bản tự khai không nhất trí ly hôn với chị H và đề nghị Toà án giải quyết con chung theo quy định của pháp luật.
Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 01 đã tiến hành tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Ngày 06/12/2022 chị Lò Thị H có đơn đề nghị không hòa giải tại Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên không tổ chức hòa giải. Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Nguyên đơn là chị Lò Thị H có mặt, bị đơn là anh Lù Văn T vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng bị đơn Lù Văn T.
Nội dung vụ án:
* Về hôn nhân: Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 25/8/2022; tại bản tự khai ngày 14/10/2022 của nguyên đơn là chị Lò Thị H và lời trình bày của chị Lò Thị H tại phiên tòa và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị H và anh TH lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 01/3/2016 tại UBND xã ĂT, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống Chị H và anh T chung sống đầm ấm, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sau đó Chị H phát hiện anh T mắc vào tệ nạn xã hội nghiện chất ma túy, không quan tâm đến gia đình vợ, con. Từ năm 2021 đến nay anh T đi chấp hành án tại Đội 29 Phân trại K2 trại giam 06 Cục C10, xã CT, huyện CT, tỉnh Thanh Hoá. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị H. Tuyên xử cho chị Lò Thị H được ly hôn với anh Lù Văn T.
* Về con chung: Chị Lò Thị H và anh Lù Văn T có 02 người con chung là cháu Lù Văn Hô, sinh ngày 27/12/2009 và cháu Lù Đức Đ, sinh ngày 05/2/2016.
Chị H có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Hô và Đ đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay các cháu Lù Văn Hô và cháu Lù Đức Đ đang sinh sống ổn định và được chăm sóc, học tập tốt nên để không gây xáo trộn về tâm lý đồng thời đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt, phù hợp với nguyện vọng của các cháu cần tiếp tục giao cháu cho chị H trực tiếp chăm nom, chăm sóc, giáo dục các cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị H về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Không có, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về án phí: Chị H là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị H.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS.
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị H: Chị Lò Thị H được ly hôn anh Lù Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Lù Văn Hô, sinh ngày 27/12/2009 và cháu Lù Đức Đ, sinh ngày 05/2/2016 cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Nghĩa vụ về cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh T có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Không có.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lò Thị H.
5. Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Chị Lò Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án; anh Lù Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người vắng mặt.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Ảng ; - Chi cục THADS huyện Mường Ảng ; - UBND xã ĂT , h. MA; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Vân |