- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/4/2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Nam Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Hà và bà Vũ Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải
Ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu H – sinh năm: 1990
Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân L – sinh năm: 1988
Trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 04/11/2022 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Võ Thị Thu H yêu cầu khởi kiện như sau:
Bà và ông Nguyễn Xuân L tự nguyện yêu thương tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân. Ông bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đăk Yă, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai vào ngày 07/9/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, không thể hàn gắn. Nguyên nhân do cả hai không có sự tôn trọng nhau, ông Nguyễn Xuân L thường xuyên cờ bạc nợ nần nhiều người, gây áp lực ảnh hưởng đến cuộc sống và gia đình bà Võ Thị Thu H. Hiện bà không thể tiếp tục chung sống cùng ông Nguyễn Xuân L nên đã về nhà cha mẹ đẻ ở. Nay nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, không thể kéo dài thêm nên bà Võ Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Xuân L.
Về con chung: Ông bà không có con chung.
Về tài sản chung: Bà Võ Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Võ Thị Thu H xác định vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Xuân L trình bày như sau: Ông và bà Võ Thị Thu H có đăng ký kết hôn với nhau theo quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do trước khi cưới nhau ông có nợ nần nhiều người. Ông mong muốn bà H cho ông cơ hội được sửa chữa lỗi lầm và vợ chồng hàn gắn đoàn tụ xây dựng gia đình với nhau. Ông không đồng ý ly hôn với bà Võ Thị Thu H.
Tại phiên hòa giải ngày 15/02/2023, phiên tòa ngày 31/3/2023 và phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Xuân L vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bị đơn ông Nguyễn Xuân L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Nguyên đơn bà Võ Thị Thu H đề nghị được xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Bà Võ Thị Thu H và ông Nguyễn Xuân L có đăng ký kết hôn với nhau theo quy định. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số 30 do UBND xã Đăk Yă, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp ngày 07/9/2022 mà nguyên đơn đã giao nộp. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị Thu H và ông Nguyễn Xuân L là hợp pháp. Quá trình thụ lý vụ án xác định ông Nguyễn Xuân L cư trú tại thôn Châu Khê, xã Đăk Yă, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Vì vậy Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
Về mâu thuẫn gia đình: Theo trình bày của đương sự và quá trình giải quyết vụ án, nhận thấy sau khi kết hôn, ông bà có phát sinh mâu thuẫn về tình cảm và tiền bạc. Hiện ông bà không còn chung sống với nhau và không có thiện chí cũng như biện pháp gì trong việc hàn gắn tình cảm mà khiến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Bà Võ Thị Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn vì hiện bà không còn tình cảm với ông L. Như vậy khả năng ông bà đoàn tụ là rất khó. Xét thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Võ Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân L theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông bà không có con chung.
Về tài sản chung: Ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ông bà xác định không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Võ Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân L.
Về án phí: Bà Võ Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010793 ngày 11/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Bà Võ Thị Thu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/4/2023), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Mang Yang; - Chi cục THADS huyện Mang Yang (khi án có hiệu lực); - UBND xã Đăk Yă, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai (khi án có hiệu lực); - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trương Nam Trung |