- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kim Hiếu T1 - Lý Ngọc T2"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Kiêm Hiếu T1 ly hôn bà Lý Ngọc T2.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST. Ngày: 30-01-2023. V/v tranh chấp Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sơn;
2. Bà Tăng Thị Bạch Vân.
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Bà Lâm Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 360/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 385/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Kiêm Hiếu T1, sinh ngày 17/4/1993.
Địa chỉ: ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: bà Lý Ngọc T2, sinh năm 1993.
Địa chỉ: ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là ông Kiêm Hiếu T1 trình bày:
Ông Kiêm Hiếu T1 và bà Lý Ngọc T2 chung sống với nhau được cha, mẹ hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Số 97/2017, ngày 29/5/2017. Quá trình chung sống ông, bà có 01 người con chung tên Kiêm Lý Khánh V, sinh ngày 29/9/2014 hiện đang sống với ông T1. Do vợ chồng không cùng quan điểm sống nên cuộc sống hôn nhân không thể tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông, bà đã ly thân nhau. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Nay ông T1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu xin ly hôn với bà Lý Ngọc T2, sinh năm 1993.
- Về con chung: Ông yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Kiêm Lý Khánh V, sinh ngày 29/9/2014 hiện đang sống với ông T1. Ông không yêu cầu bà T2 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Ông T1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông và ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện ngày 24/8/2022.
Đối với bị đơn bà Lý Ngọc T2: Trong quá trình giải quyết vụ án bà không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu phản tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và tư cách của người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1, bà T2 theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ. Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy mối quan hệ vợ chồng giữa ông T1 và bà T2 đã mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T1, cho ông T1 được ly hôn với bà T2.
Về con chung: Do con chung là cháu Kiêm Lý Khánh V, sinh ngày 29/9/2014 sống cùng với ông T1 từ khi vợ chồng ly thân đến nay, bà T2 không có yêu cầu nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông T1, giao con chung cho ông T1 tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu V và ý kiến của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Kế Sách.
Về cấp dưỡng nuôi con: do ông T1 không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: ông T1 tự khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Tại phiên tòa nguyên đơn ông Kiêm Hiếu T1 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Lý Ngọc T2 vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến gì nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Ông T1 và bà T2 có đăng ký kết hôn vào ngày 29/5/2017, do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng ly thân nhau. Theo biên bản xác minh của Tòa án ngày 06/12/2022: thì nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp là do trước đây vợ chồng phát sinh mâu thuẩn không thể hàn gắn. Việc ông T1 khởi kiện thì bà T2 không có ý kiến gì. Xét thấy, mối quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Bỡi lẽ, theo lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở để xác định cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Theo lời khai của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, giữa nguyên đơn và bị đơn có 01 (một) người con chung tên Kiêm Lý Khánh V, sinh ngày 29/9/2014 hiện đang sống với nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục được nuôi con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Riêng bị đơn không có ý kiến gì về con chung.
Xét thấy, con chung đã được nguyên đơn nuôi dưỡng ổn định từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, đồng thời để tránh những xáo trộn trong đời sống, tâm sinh lý, gây ra những ảnh hưởng không tốt đến việc phát triển bình thường của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn, giao con chung là cháu Kiêm Lý Khánh V, sinh ngày 29/9/2014 hiện đang sống với nguyên đơn cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu V. Việc giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng cũng phù hợp với ý kiến của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Kế Sách tại công văn số: 543/P.LĐTBXH ngày 20/12/2022. Do nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Do nguyên đơn tự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về nợ chung: Do nguyên đơn tự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Kiêm Hiếu T1 ly hôn bà Lý Ngọc T2.
[2] Về con chung: Giao con chung là cháu Kiêm Lý Khánh V, sinh ngày 29/9/2014 hiện đang sống với ông Kiêm Hiếu T1 cho ông Kiêm Hiếu T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu V đủ 18 tuổi, theo nguyện vọng của cháu V và ý kiến của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Kế Sách. Bà Lý Ngọc T2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Bà Lý Ngọc T2 không cấp dưỡng nuôi con chung do ông Kiêm Hiếu T1 không yêu cầu.
[3] Về tài sản chung: Do ông Kiêm Hiếu T1 tự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[4] Về nợ chung: Do ông Kiêm Hiếu T1 tự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Kiêm Hiếu T1 phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng ông Kiêm Hiếu T1 đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004834 ngày 02/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách không nộp thêm. Bà Lý Ngọc T2 không chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Báo cho các đương sự đựơc quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - Chi cục THADS huyện Kế Sách; - Đương sự; - UBND xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |