vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn Ch.

Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Thị Kim Tiên, sinh ngày 22-12-2012 cho chị Nguyễn Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Ch không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị H mà có quyền, nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu H- Phạm Văn Ch"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày 05/01/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly
hôn giữa chị H và anh Ch

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi;

Bà Trần Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Xóm Bắc Hải, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn Ch, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm Bắc Hải, xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định.

(Chị H vắng mặt có lý do; anh Ch vắng mặt lần hai không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 01-11-2022, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn Ch đăng ký kết hôn ngày 04-11-2011 tại Uỷ ban nhân dân xã HM, huyện HH, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Quá trình chung sống, mặc dù vợ chồng đã có con chung nhưng do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa, tình cảm lạnh nhạt, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị H, anh Ch đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ khoảng tháng 6 năm 2022 đến nay. Kể từ khi sống ly thân, chị H đã đưa con chung về nhà mẹ đẻ sinh sống. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Ch không còn, chị H giữ yêu cầu xin được ly hôn với anh Ch.

Về con chung: Chị H và anh Ch có một con chung là cháu Phạm Thị Kim Tiên, sinh ngày 22-12-2012, hiện đang ở với chị H. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tiên, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý số 250/TB-TLVA ngày 14/11/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ hợp lệ cho anh Phạm Văn Ch nhưng anh Ch không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Ch nhưng đến nay anh Ch vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Vắn Ch đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh Ch là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn Ch là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã HM, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 04-11-2011.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh Ch thì thấy: Trong suốt quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm sống không hợp nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị H, anh Ch đã ly thân, chấm dứt quan hệ tình cảm, trách nhiệm từ tháng 6 năm 2022 cho đến nay. Trong suốt thời gian ly thân, chị H, anh Ch cũng không có biện pháp để hòa giải, đoàn tụ gia đình. Mặt khác, anh Ch đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, anh Ch đã biết được việc chị H làm đơn xin ly hôn nhưng không có văn bản ghi ý kiến của mình gửi cho Tòa án, không có mặt tại các buổi làm việc của Tòa án đã chứng tỏ anh Ch không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Trên cơ sở xem xét ý kiến của chính quyền địa pH về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Ch; căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự đã có đủ cơ sở xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Ch đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn anh Ch là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn Ch có một con chung là cháu Phạm Thị Kim Tiên, sinh ngày 22-12-2012, hiện đang ở với chị H. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của chị H về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung chưa thành niên sau ly hôn thì thấy: Từ khi chị H và anh Ch ly thân, cháu Tiên do chị H trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Tiên có nguyện vọng ở với mẹ; chị H xin được tiếp tục nuôi cháu Tiên, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, anh Ch không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị H, giao cháu Phạm Thị Kim Tiên, sinh ngày 22-12-2012, hiện đang ở với chị H cho chị Nguyễn Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến nay, anh Ch cũng không có ý kiến gì về việc giải quyết tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn Ch.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Thị Kim Tiên, sinh ngày 22-12-2012 cho chị Nguyễn Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Ch không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị H mà có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Hiện cháu Phạm Thị Kim Tiên đang ở với chị H đang do chị H nuôi dưỡng nên hai bên không phải bàn giao con cho nhau.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0006423 ngày 14-11-2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ