- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Lê Văn Nh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận cho chị Trần Thị L ly hôn anh Lê Văn Nh.
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/ HNGĐ-ST Ngày: 08/5/2023 V/v: Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Chương và Ông Đoàn Xuân Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2023 tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/04/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25/04/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị L; sinh năm: 1992; địa chỉ: Xóm 4, xã PT, huyện YT, tỉnh Nghệ An; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn Nh; sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 03 năm 2023, bản tự khai tại hồ sơ và tại phiên tòa chị Trần Thị Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L kết hôn với anh Lê Văn Nh trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc và đăng ký kết hôn vào 17/03/2014 tại UBND xã ĐĐ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau đến năm 2016 thì nảy sinh mâu thuẫn và ngày cảng trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách và quan điểm sống của vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay. Chị Trần Thị L xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
- Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có 01 con chung tên là Lê Trần Ngọc Q, sinh ngày 20/4/2014, từ khi vợ chồng ly thân đến nay con sống chung với anh Nh; nếu ly hôn chị L có nguyện vọng để cho anh Lê Văn Nh trực tiếp nuôi dưỡng con đến khi đủ 18 tuổi. Chị L không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, nợ chung: Chị Trần Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lê Văn Nh theo tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện:
Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ đã phối hợp với chính quyền địa phương xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ trực tiếp đến nhà tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho anh Lê Văn Nh, nhưng anh Nh không ở nhà nên Tòa án giao cho mẹ đẻ anh Nh là bà Bùi Thị Nh nhận thay và bà Nh đồng ý chịu trách nhiệm giao lại cho anh Nh, nhưng anh Nh không tham gia các buổi làm việc do Tòa án tiến hành.
Tại phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 25/4/2023 anh Nh vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa; tại phiên tòa hôm nay anh Nh vắng mặt lần thứ 2 không có lý do; chị Trần Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn cơ bản đã thực hiện đúng pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án anh Lê Văn Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Nh vắng mặt không có lý do là không chấp hành nghiêm túc quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Trần Thị Th được ly hôn anh Lê Văn Nh.
Về con chung và cấp dưỡng: Căn cứ vào Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung Lê Trần Ngọc Q, sinh ngày 20/4/2014 cho anh Lê Văn Nh trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Trần Thị L không cấp dưỡng nuôi con cho anh Nh.
Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữa nguyên đơn chị Trần Thị L, sinh năm: 1992; địa chỉ: Xóm 4, xã PT, huyện YT, tỉnh Nghệ An và bi đơn anh Lê Văn Nh, sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Đức Thọ ĐT, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, hai lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác, nhưng anh Lê Văn Nh không có mặt tại Tòa án gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Ngày 25 tháng 04 năm 2023 Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất, anh Lê Văn Nh vắng mặt nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay anh Lê Văn Nh vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt anh Lê Văn Nh.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L kết hôn với anh Lê Văn Nh trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị lừa dối hay ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 17/03/2014. Điều đó phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn của chị L và anh Nh do UBND xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ cấp và chị L giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của anh Nh chị L là hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, sống ly thân, mỗi người tự lo cuộc sống riêng mà không có sự quan tâm nhau. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Văn Nh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nh để tham gia các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa nhưng anh Nh đều vắng mặt chứng tỏ anh Nh không quan tâm đến việc có cần tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân của vợ chồng hay không. Điều đó chứng tỏ rằng tình trạng hôn nhân vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị Trần Thị L ly hôn anh Lê Văn Nh theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ.
Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có 01 con chung tên là Lê Trần Ngọc Q, sinh ngày 20/4/2014 .Từ thời điểm vợ chồng sống ly thân đến nay cháu Q ở cùng với anh Nh và ông bà nội tại thôn ĐV, xã ĐĐ, huyện Đức Thọ, anh Nh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q đảm bảo điều kiện sống và học tập cho cháu phát triển bình thường. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án cháu Q có nguyện vọng sau khi bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng ở cùng bố, chị Trần Thị L có nguyện vọng giao con cho anh Lê Văn Nh chăm sóc. Để đảm bảo cuộc sống và tâm lý ổn định cho cháu Q nên giao cháu Quân cho anh Nh tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng là có cơ sơ theo khoản Điều 81, Khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Anh Lê Văn Nh không có yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Trần Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Trần Thị L và anh Lê Văn Nh có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận cho chị Trần Thị L ly hôn anh Lê Văn Nh.
2. Giao con chung Lê Trần Ngọc Q, sinh ngày 20/4/2014 cho anh Lê Văn Nh trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Trần Thị Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở.
3. Chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Chị L đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0013162 ngày 16/03/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Chị Trần Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Lê Văn Nh có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKS huyện Đức Thọ; - VKS tỉnh Hà Tĩnh; - Toà án tỉnh Hà Tĩnh; - Các đương sự; - THADS huyện Đức Thọ; - UBND xã Đức Đồng; - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Trọng |