vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Ma Thị X, cho chị Ma Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn B. Về con chung: Không có

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị X anh B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12- 5- 2023
V/v yêu cầu ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyệt

2. Bà Dương Thị Thu Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên tham

gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ,

tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 14/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về việc yêu cầu ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Ma Thị X, sinh năm 1983

+ Bị đơn: Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1984

Cùng nơi ĐKHKTT: Xóm KC, xã CT, huyện ĐH, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai cùng

các tài liệu, giấy tờ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ma Thị X trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn B kết hôn năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Uỷ

ban nhân dân xã CT, huyện ĐH, tỉnh TN trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.

Sau khi kết hôn vợ chồng cùng nhau đi làm xa, không sinh sống tại địa

phương, vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Đến đầu năm 2022, do cuộc sống quá khó khăn, không có việc làm nên chị trở về địa phương và sinh sống tại nhà anh Hoàng Văn B thuộc xóm KC, xã CT, huyện ĐH, tỉnh TN, còn anh B tiếp tục đi làm, thi thoảng mới về. Từ khi chị về nhà sinh sống, hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã qua điện thoại. Nguyên nhân: Do anh B ghen tuông, nghi ngờ chị ở nhà không chung thuỷ. Đến tháng 01/2023, hai bên xảy ra cãi vã và mâu thuẫn trầm trọng, anh B không cho chị tiếp tục sinh sống ở nhà của anh B, yêu cầu chị dọn toàn bộ đồ đạc đi nơi khác sống. Sau đó, chị đã chuyển về nhà mẹ đẻ tại xã TL, huyện ĐH, tỉnh TN sinh sống cho đến nay.

Nay chị xác định cuộc hôn nhân giữa chị và anh Hoàng Văn B đã lâm vào

tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn B.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

[2]. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ đã thực hiện

việc tống đạt, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Hoàng Văn B theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, anh Hoàng Văn B không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định; do vậy, Tòa án không xác định được lời khai của anh Hoàng Văn B và không tiến hành hòa giải được.

[3]. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài

liệu chứng cứ tại địa phương nơi cư trú của đương sự về tình trạng hôn nhân. Kết quả xác định: Sau khi kết hôn chị Ma Thị X và anh Hoàng Văn B cùng đi làm không sinh sống tại địa phương, đến tháng 02/2022 mới về sinh sống tại địa phương. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn hay không thì không ai rõ. Tuy nhiên, khoảng tháng 01/2023 anh Hoàng Văn B trao đổi với các anh chị em trong gia đình không tiếp tục cho chị Ma Thị X sống tại nhà nữa, yêu cầu chị X dọn đi nơi khác, chìa khoá nhà và toàn bộ giấy tờ X máy, giấy tờ của anh Hoàng Văn B phải giao lại cho anh trai anh B cất giữ. Từ đó đến nay chị X không sinh sống tại địa phương nữa.

[4]. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý đến khi

đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội

đồng xét xử Xm xét tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 21, 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quyết định:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ma

Thị X, cho chị Ma Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn B.

+ Về con chung: Không có.

+ Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét giải quyết vì đương

sự không yêu cầu.

+ Án phí: Chị Ma Thị X phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và

gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Ma

Thị X và bị đơn anh Hoàng Văn B, cùng nơi cư trú tại xã CT, huyện ĐH, tỉnh TN. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu

chứng cứ và tống đạt, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh Hoàng Văn B theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng dân sự; tuy nhiên, anh Hoàng Văn B không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án; do vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được, phải đưa ra xét xử công khai. Tại phiên tòa anh Hoàng Văn B vắng mặt lần thứ hai không có lý do, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Văn B.

[2]. Về nội dung vụ án:

+ Quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị X và anh Hoàng Văn B kết hôn năm

2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn vợ chồng cùng nhau đi làm, chung sống hoà thuận. Đến

năm 2022 chị Ma Thị X trở về địa phương sinh sống tại nhà anh Hoàng Văn B, còn anh B tiếp tục đi làm, thi thoảng mới về. Từ đó hai vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân theo chị X là do anh B hay ghen tuông, nghi ngờ chị ở nhà không chung thuỷ. Tháng 01/2023 anh B yêu cầu chị dọn ra khỏi nhà chuyển đi nơi khác sống nên chị đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó cho tới nay. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù anh B đã nhận được và biết được thông tin Tòa án nhiều lần triệu tập và thông B mở phiên hòa giải, nhưng anh B không có mặt tại Toà án và cũng không có lý do, chứng tỏ anh B không còn mong muốn níu giữ cuộc hôn nhân giữa anh và chị X.

Qua đó, Hội đồng xét xử thấy cuộc hôn nhân hiện nay giữa chị Ma Thị X

và anh Hoàng Văn B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Ma Thị X là có cơ sở chấp nhận, cho chị Ma Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn B là phù hợp với các quy định của pháp luật.

+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên

HĐXX không Xm xét giải quyết.

+ Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội

đồng xét xử không Xm xét giải quyết. Các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chị Ma Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 174, Điều 175, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Ma Thị X, cho chị Ma Thị X được ly hôn với anh Hoàng Văn B.

2. Về con chung: Không có

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án

giải quyết trong vụ án này nên không xem xét. Các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Ma Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003729 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Chị Ma Thị X đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Ma Thị X, vắng mặt anh Hoàng Văn

B. B cho chị Ma Thị X biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Hoàng Văn B biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ