vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T đối với ông Phan Văn Đ về việc tranh chấp về ly hôn.

Cho bà Đỗ Thị T được ly hôn với ông Phan Văn Đ. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án tranh chấp ly hôn Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T - Bị đơn: Ông Phan Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T đối với ông Phan Văn Đ về việc tranh chấp về ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠ HUOAI
TỈNH LÂM ĐỒNG
———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI – TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Lê Minh Tuấn

2. Bà Vũ Thị Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh là thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2022/TLST– HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1982

Thường trú tại: Số C tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(bà T có mặt)

- Bị đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1979

Thường trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

(ông Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Trong đơn khởi kiện ghi các ngày 09 tháng 8 năm 2022, ngày 06 tháng 10 năm 2022 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị T và ông Phan Văn Đ tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 20/5/2019 và có tổ chức đám cưới. Bà Đỗ Thị T và ông Phan Văn Đ chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình và lối sống không phù hợp nên cuộc sống không hòa thuận, không cùng quan điểm sống, vợ chồng thỉnh thoảng cãi chửi nhau. Vợ chồng đã tự hòa giải nhiều lần và cũng được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không hòa giải được. Bà T và ông Đ đã sống ly thân từ tháng 3/2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đang sống ly thân thời gian dài không ai quan tâm đến ai nên bà Đỗ Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn Đ.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Đỗ Thị T và ông Phan Văn Đ sinh được 01 con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020. Hiện nay con chung Phan Thị Quỳnh N đang ở với bà T. Bà T có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập đủ điều kiện nuôi con chung. Khi ly hôn bà Đỗ Thị T yêu cầu được chăm sóc và nuôi dưỡng 01 con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020 đến khi con chung thành niên. Bà Đỗ Thị T không yêu cầu ông Phan Văn Đ cấp dưỡng nuôi 01 con chung Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020.

- Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Bà Đỗ Thị T trình bày vợ chồng không có nợ chung.

Ngoài ra bà B Đỗ Thị T không trình bày hay yêu cầu gì khác.

* Bị đơn ông Phan Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời khai của bị đơn ông Phan Văn Đ.

Vụ án đã được Toà án đưa ra hoà giải nhiều lần nhưng không tiến hành hòa giải được vì lý do vắng mặt bị đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai – tỉnh Lâm Đồng đã có bài phát biểu đánh giá về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và đánh giá về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Bài phát biểu đã đánh giá Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đánh giá nguyên đơn bà Đỗ Thị T chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Phan Văn Đ không chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T cho bà Đỗ Thị T được ly hôn với ông Phan Văn Đ, về con chung đề nghị giao con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020 cho bà Đỗ Thị T nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con chung nguyên đơn bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét về cấp dưỡng nuôi con chung, về án phí bà Đỗ Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà.

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Đỗ Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Phan Văn Đ, bị đơn ông Phan Văn Đ có nơi cư trú tại tổ dân phố A, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là vụ án tranh chấp ly hôn và Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Phan Văn Đ là đúng quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hôn nhân:

Bà Đỗ Thị T và ông Phan Văn Đ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 20/5/2019 vì vậy hôn nhân được xác lập giữa bà T và ông Đ là hôn nhân hợp pháp.

Theo nguyên đơn bà T trình bày vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình và lối sống không phù hợp nên cuộc sống không hòa thuận, không cùng quan điểm sống, vợ chồng thỉnh thoảng cãi chửi nhau. Vợ chồng đã tự hòa giải nhiều lần và cũng được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không hòa giải được. Bà T và ông Đ đã sống ly thân từ tháng 3/2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đang sống ly thân thời gian dài không ai quan tâm đến ai nên bà Đỗ Thị T yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn Đ. Bị đơn ông Phan Văn Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm, trở về đoàn tụ nhưng bị đơn không đến và cũng không cho biết ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn. Điều này chứng tỏ bị đơn đã không còn mong muốn hàn gắn tình cảm gia đình, xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững. Căn cứ biên bản xác minh ngày 05/4/2023 của Tòa án tại Hội L phụ nữ thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng về hôn nhân giữa bà Đỗ Thị T và ông Phan Văn Đ thì hiện nay bà T và ông Đ không còn sống chung, ông Đ sống tại nhà còn bà T đã chuyển ra ngoài sinh sống. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của bà T về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là đúng với thực tế.

Xét thấy hiện nay mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông Đ trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân giữa bà T và ông Đ không đạt được, vợ chồng không còn sống chung với nhau thời gian dài và không ai còn quan tâm đến ai nữa. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị T, cho bà Đỗ Thị T được ly hôn với ông Phan Văn Đ là có cơ sở pháp luật và phù hợp với thực tế.

Về con chung: Bà T trình bày trong quá trình chung sống bà Đỗ Thị T và ông Phan Văn Đ sinh được 01 con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020. Khi ly hôn bà Đỗ Thị T yêu cầu được nuôi dưỡng 01 con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020 đến khi con chung thành niên.

Tại bản sao trích lục khai sinh số 31/TLKS-BS ngày 10/02/2020 của Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thể hiện họ tên Phan Thị Quỳnh N, ngày tháng năm sinh 31/01/2020, họ tên mẹ Đỗ Thị T, năm sinh 1982, họ tên cha Phan Văn Đ, năm sinh 1979. Căn cứ khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình thì xác định 01 con chung tên Phan Thị Quỳnh N, ngày tháng năm sinh 31/01/2020 là con chung của bà Đỗ Thị T và ông Phan Văn Đ.

Xét thấy hiện nay con chung Phan Thị Quỳnh N đang ở với bà T vẫn phát triển tốt, còn ông Phan Văn Đ không có ý kiến, nguyện vọng gì về con chung. Bà T yêu cầu nuôi 01 con chung là Phan Thị Quỳnh N. Bà T có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập nên đủ điều kiện nuôi con chung. Để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại hay tâm lý của con chung đồng thời để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 01 con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020 cho bà Đỗ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đến tuổi thành niên là có cơ sở pháp luật và phù hợp với thực tế.

Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Bà Đỗ Thị T không yêu cầu ông Phan Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi 01 con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020 và bị đơn ông Phan Văn Đ không có ý kiến, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét về cấp dưỡng nuôi 01 con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020 là phù hợp.

Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung là phù hợp.

Về nợ chung: Bà Đỗ Thị T trình bày vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét về nợ chung là phù hợp. [7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Bà Đỗ Thị T khởi kiện ly hôn nên phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị T đối với ông Phan Văn Đ về việc tranh chấp về ly hôn.

Cho bà Đỗ Thị T được ly hôn với ông Phan Văn Đ.

2. Về con chung:

Giao một con chung là Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020 cho bà Đỗ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đến tuổi thành niên. Ông Phan Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung Phan Thị Quỳnh N, sinh ngày 31/01/2020.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí:

Bà Đỗ Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà Đỗ Thị T đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên liên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000270 ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Bà Đỗ Thị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 11/5/2023); Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 và 9 Luật thi hành án dân sự, các Điều 7 và Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ