vanban.org

Bản án 08/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Kim T đối với ông Phạm Văn M. Bà Võ Kim T được ly hôn với ông Phạm Văn M. Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Kim T và ông Phạm Văn M chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Nhựt A, sinh năm 1988 và Phạm Nhựt K, sinh năm 1999, đã trưởng thành nên không xét đến. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không xét đến. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T - M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Kim T đối với ông Phạm Văn M. Bà Võ Kim T được ly hôn với ông Phạm Văn M. Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Kim T và ông Phạm Văn M chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-01-2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thị Trúc Linh

2. Ông Nguyễn Hoàng Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Hiền Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 560/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2022 về việc về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Kim T, sinh năm 1967; Trú tại: Số A, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1966; Trú tại: Số A, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bà Võ Kim T trình bày:

Bà T và ông Phạm Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào năm 1987. Quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu; sau đó thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung và hay cãi nhau. Bà T và ông M đã tìm nhiều cách để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Do không còn tình cảm với ông M nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Phạm Văn M, bà T không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau khi ly hôn.

- Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Nhựt A, sinh năm 1988 và Phạm Nhựt K, sinh năm 1999, đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 06/01/2023, ông Phạm Văn M trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, do bà T tự ý đi làm đơn yêu cầu ly hôn nên ông M không có ý kiến trình bày gì và đề nghị không đến Tòa án để giải quyết vụ án, yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, không có khiếu nại gì về sau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự tuân thủ đúng quy định của pháp luật tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Do mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của bà T và ông M đã đến mức trầm trọng, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông M. Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Nhựt A, sinh năm 1988 và Phạm Nhựt K, sinh năm 1999, đã trưởng thành không xét đến. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận; nợ chung: Không có nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Kim T, bị đơn ông Phạm Văn M có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông M là phù hợp với Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn ông Phạm Văn M có nơi cư trú tại ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào năm 1987 là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.Theo lời trình bày của bà T, sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Tại biên bản làm việc ngày 06/01/2023; ông M từ chối trình bày ý kiến và đề nghị được vắng mặt tại Tòa án. Điều này cho thấy ông M đã từ bỏ mối quan hệ hôn nhân này, không thể hiện được mong muốn được đoàn tụ vợ chồng. Bản thân bà T vẫn cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông M. Chứng tỏ việc hàn gắn tình cảm cho bà T và ông M không có kết quả, mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng của bà T và ông M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông M là phù hợp quy định pháp luật. Bà T và ông M tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn nên ghi nhận.

Về con chung: Bà T và ông M có 02 con chung là Phạm Nhựt A, sinh năm 1988 và Phạm Nhựt K, sinh năm 1999, đã trưởng thành nên không xét đến.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không xét đến.

Về nợ chung: Bà T khai không có; ông M vắng mặt không có lời trình bày nên không có cơ sở xem xét.

Về án phí:

- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà T phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 56; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Kim T đối với ông Phạm Văn M. Bà Võ Kim T được ly hôn với ông Phạm Văn M. Quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Kim T và ông Phạm Văn M chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ghi nhận bà Võ Kim T và ông Phạm Văn M không yêu cầu cấp dưỡng cho vợ chồng sau khi ly hôn.

2. Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Nhựt A, sinh năm 1988 và Phạm Nhựt K, sinh năm 1999, đã trưởng thành nên không xét đến.

3. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Bà T khai không có; ông M vắng mặt không có lời trình bày nên không có cơ sở xem xét.

5. Về án phí:

- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Kim T phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0010664 ngày 01/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Bà Võ Kim T đã nộp xong án phí.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ