- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ về ly hôn giữa nguyên đơn Lý Chung T và bị đơn Nguyễn Lê Anh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lý Chung T được ly hôn với ông Nguyễn Lê Anh H.
- Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17/3/2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Mai Thị Thu Trang
2/ Ông Lê Quí Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 242/2022/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2022 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01/3/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lý Chung T - Sinh năm: 1997
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Lê Anh H - Sinh năm: 1991
Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện đề ngày 09/6/2022, bản tự khai ngày 05/10/2022, nguyên đơn bà Lý Chung T trình bày:
Về yêu cầu ly hôn: Bà T và ông Nguyễn Lê Anh H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2020 và được Ủy ban nhân dân thị trấn Cam Đức cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 120 ngày 02/11/2020.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà T, ông H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hòa thuận nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn yêu thương nhau. Mặc dù, bà T đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng tình trạng mâu thuẫn vẫn không được cải thiện, làm cho cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng. Bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng nhau được nên bà T yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Lê Anh H.
Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông H có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia P sinh ngày 02/6/2021. Hiện nay, cháu P đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu P và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong biên bản lấy lời khai ngày 08/02/2023, bị đơn ông Nguyễn Lê Anh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà Lý Chung T tự nguyện kết hôn với nhau năm 2020 và được Ủy ban nhân dân thị trấn Cam Đức cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 120 ngày 02/11/2020. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra kình cãi. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm. Đầu năm 2020, bà T đã đưa con về sống cùng cha mẹ bà tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Ông H không đồng ý ly hôn.
Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Ông H và bà T có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia P sinh ngày 02/6/2021. Bà T yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng thì ông H không có ý kiến gì.
Về yêu cầu chia tài sản chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Lý Chung T và bị đơn ông Nguyễn Lê Anh H đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Các đương sự đều có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn cũng như về việc nuôi con, cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 09/6/2022, bà Lý Chung T có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Lê Anh H, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Ngày 21/7/2022, Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án và ngày 03/10/2022, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Lý Chung T và bị đơn ông Nguyễn Lê Anh H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về yêu cầu ly hôn: Bà Lý Chung T và ông Nguyễn Lê Anh H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2020 và được Ủy ban nhân dân thị trấn Cam Đức cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 120 ngày 02/11/2020, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà T và ông H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Bà T và ông H đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2022, không ai quan tâm đến ai. Ông H không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên hòa giải nhưng bà T, ông H đều đề nghị không hòa giải và xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lý Chung T.
[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà T và ông H có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia P sinh ngày 02/6/2021. Hiện nay, cháu P chưa đủ 36 tháng tuổi và đang sống cùng với bà T. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và phát triển thể chất của cháu P nên chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu P cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T và ông H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lý Chung T được ly hôn với ông Nguyễn Lê Anh H.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:
- Giao cháu Nguyễn Gia P sinh ngày 02/6/2021 cho bà Lý Chung T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không xét.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà T và ông H không yêu cầu giải quyết nên không xét.
4. Về án phí: Bà Lý Chung T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007667 ngày 23/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng; bà Lý Chung T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Cam Lâm; - THADS huyện Cam Lâm; - Các đương sự; - UBND thị trấn Cam Đức; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hoài Tâm |