vanban.org

Bản án 08/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam.

Buộc bị đơn cá nhân ông Đỗ Huy H có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam số tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 09/5/2023 là 362.446.576 đồng (Trong đó gốc là 300.000.000 đồng, lãi là 62.446.576 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xé… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIÊN HẢI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 08/2023/DS-ST
Ngày: 09 - 5 - 2023.
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Nghi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Quốc Việt

2. Bà Lê Thị Hoàng Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải: Không tham gia.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2022/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-DS, ngày 29 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam (Gọi tắc là Ngân hàng A)

Địa chỉ: Số 02 đường Láng Hạ, phường TC, quận BĐ, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Ngọc T – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam – Chi nhánh huyện KH, tỉnh Kiên Giang (NH NoN và PT NT VN – CN huyện KH).

(Theo Quyết định v/v ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng Giám đốc A)

Địa chỉ: ấp 1, xã HT, huyện KH, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Minh Ch – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam – Chi nhánh huyện KH. (Có mặt)

(Văn bản ủy quyền số 97/QĐ-NHNN.KH ngày 05/5/2023).

Địa chỉ: ấp 1, xã HT, huyện KH, Kiên Giang

2. Bị đơn: Ông Đỗ Huy H, sinh năm 1956 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp 1, xã HT, huyện KH, Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 23/11/2022 nguyên đơn Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam (Ngân hàng A) trình bày:

Tại Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam – Chi nhánh huyện KH, ông Đỗ Huy H có ký kết Hợp đồng tín dụng số 7708-LAV-202000688 ngày 16/11/2020, vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng, lãi suất 11,5%/năm; mục đích sử dụng vốn vay là sửa chữa nhà.

Để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán ông H có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7708LCL201900560 ngày 15/11/2019 để thế chấp 02 quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số AB056482, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 2022,8 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 28/02/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số Y 918023, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 102,66 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 10/12/2003 đều đứng tên ông Đỗ Huy H, đất tọa lạc ấp 1, xã HT, huyện KH, Kiên Giang.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông H vẫn không trả cho Ngân hàng A bất cứ số tiền gốc nào. Vì vậy sau nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng không có kết quả Ngân hàng A đã khởi kiện ông H đến Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông H phải thanh toán ngay số tiền nợ vay tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là 362.446.576 đồng (Trong đó gốc là 300.000.000 đồng, lãi là 62.446.576 đồng).

Đồng thời đề nghị tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp mà ông H đã ký với Ngân hàng để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Đỗ Huy H trình bày như sau: Ông H thừa nhận có ký Hợp đồng tín dụng số 7708-LAV-202000688 ngày 16/11/2020 để vay Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam với số tiền là 300.000.000 đồng, hiện ông vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng khoản tiền gốc nào . Do hiện nay không còn khả năng thanh toán nên xin ngân hàng cho miễn giảm số tiền lãi phát sinh đến thời điểm hiện tại, về số tiền gốc xin giản thời giản trả nợ đến hết năm 2023.

Để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho hợp đồng tín dụng nói trên, ông H có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7708LCL201900560 ngày 15/11/2019 để thế chấp cho ngân hàng 02 quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số AB056482, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 2022,8 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 28/02/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số Y 918023, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 102,66 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 10/12/2003 đều đứng tên ông Đỗ Huy H, đất tọa lạc ấp 1, xã HT, huyện KH, Kiên Giang. Nay ông H đồng ý giao tài sản thế chấp để phát mãi trả nợ cho ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng A khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện Kiên Hải.

Nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A yêu cầu bị đơn cá nhân ông Đỗ Huy H thanh toán số tiền nợ vay là 362.446.576 đồng là có cơ sở chấp nhận bởi lẽ ông Đỗ Huy H có ký Hợp đồng tín dụng số 7708-LAV-202000688 ngày 16/11/2020, vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 84 tháng, lãi suất 11,5%/năm; mục đích sử dụng vốn vay là sửa chữa nhà ở.

Để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho hợp đồng tín dụng trên ông H có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7708LCL201900560 ngày 15/11/2019 để thế chấp cho ngân hàng để thế chấp 02 quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số AB056482, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 2022,8 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 28/02/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số Y 918023, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 102,66 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 10/12/2003 đều đứng tên ông Đỗ Huy H, đất tọa lạc ấp 1, xã HT, huyện KH, Kiên Giang.

Trong H đồng tín dụng nêu trên thì các bên thống nhất thỏa thuận trả gốc 01 năm/01lần, bắt đầu thực hiện việc trả gốc vào ngày 30/11/2021 với số tiền 40.000.000đ, trả lãi 03 tháng 01 lần vào ngày 30 nhưng đến nay ông H chưa trả đủ tiền gốc, lãi cho Ngân hàng theo thời hạn nêu trên là vi phạm hợp đồng nên ông H phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ vay gốc, lãi còn lại cho nguyên đơn Ngân hàng A.

Mặt khác, theo Điều 463 Bộ luật dân sự quy định:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Khoản 1, khoản 5 Điều 466 quy định:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; …”

“5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Như vậy, có đủ căn cứ để buộc bị đơn cá nhân ông Đỗ Huy H có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam số tiền nợ gốc và nợ lãi theo các hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 362.446.576 đồng (Trong đó gốc là 300.000.000 đồng, lãi là 62.446.576 đồng).

Xét Hợp đồng thế chấp tài sản số 7708LCL201900560 ngày 15/11/2019 giữa Ngân hàng A với ông Đỗ Huy H được ký kết là đúng thủ tục theo quy định nên căn cứ Điều 319 Bộ luật dân sự thì Hợp đồng thế chấp đã phát sinh hiệu lực. Ông Hợp đã dùng 02 quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số AB056482, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 2022,8 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 28/02/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số Y 918023, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 102,66 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 10/12/2003 đều đứng tên ông Đỗ Huy H, đất tọa lạc ấp 1, xã HT, huyện KH, Kiên Giang để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Nay ông H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng nên căn cứ Điều 299, Điều 323 Bộ luật dân sự cần tiếp tục duy trì các Hợp đồng thế chấp này để đảm bảo quá trình thi hành án cho nguyên đơn Ngân hàng A.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị đơn ông Đỗ Huy H phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định nhưng ông H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên theo quy định ông H được miễn toàn bộ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 299, Điều 319, Điều 323, Điều 463, Điều 466 Bộ Luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn ấp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam.

- Buộc bị đơn cá nhân ông Đỗ Huy H có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam số tiền nợ gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 09/5/2023 là 362.446.576 đồng (Trong đó gốc là 300.000.000 đồng, lãi là 62.446.576 đồng).

- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 09/5/2023 ông Đỗ Huy H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Đỗ Huy H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay

- Khi ông Đỗ Huy H trả hết nợ gốc, lãi cho Ngân hàng thì Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Hợp 02 quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số AB056482, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 2022,8 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 28/02/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số Y 918023, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 102,66 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 10/12/2003 đều đứng tên ông Đỗ Huy H, đất tọa lạc ấp 1, xã HT, huyện KH, Kiên Giang.

- Trường hợp ông Đỗ Huy H không trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng thì tài sản thế chấp là 02 quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số AB056482, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 2022,8 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 28/02/2005 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số Y 918023, không thửa số, không tờ bản đồ, diện tích 102,66 m2 được UBND huyện KH cấp ngày 10/12/2003 đều đứng tên ông Đỗ Huy H, đất tọa lạc ấp 1, xã HT, huyện KH, Kiên Giang sẽ được tiếp tục duy trì để đảm bảo thi hành án cho Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Đỗ Huy H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên theo quy định ông H được miễn toàn bộ án phí.

- Trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Nn và Ptnt Việt Nam số tiền tạm ứng án phí là 8.615.000 đồng (Tám triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007079 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ