vanban.org

Bản án 08/2022/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.

1. Buộc Ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B phải trả ngay một lần cho V tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 15/03/2022 là: Nợ gốc quá hạn : 812,883,417 đồng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/KDTM-ST
Ngày: 15-3-2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Nga

2. Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phan Mỹ Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2022 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 07/2021/TLST-KDTM ngày 01 tháng 02 năm 2021 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/2021/QĐXXST-KDTM ngày 29 tháng 11 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 266/2021/QĐST-KDTM ngày 27 tháng 12 năm 2021, Thông báo về việc dời lại phiên tòa ngày 25 tháng 01 năm 2022 và Thông báo mở lại phiên tòa ngày 15 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V

Địa chỉ: 89 L, phường L, quận Đ, TP.Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1996

Địa chỉ: Tầng 1, số 96 C, Phường B, Quận B, TP.HCM.

2. Bị đơn: Ông Trương Văn Đ- Chủ Hộ kinh doanh B

Địa chỉ: D11/329A, ấp B, xã T, huyện B, TP.HCM.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ, liên quan:

3.1. Ông Trương Văn Đức, sinh năm 1972

3.2. Bà Bùi Thị Bảo Yến, sinh năm 1990

Cùng địa chỉ: D11/329A, ấp B, xã T, huyện B, TP.HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn - Ngân hàng TMCP V, do Bà Nguyễn Thị Kim O đại diện trình bày như sau:

Ông Trương Văn Đ – Chủ Hộ kinh doanh B có vay vốn tại V S theo Hợp đồng cho vay số SME/SGN/18/0112/HDTD ngày 11/10/2018, Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số SME/SGN/18/0112/HDHMTC ngày 11/10/2018, Hợp đồng cho vay số SME/SGN/18/0155/HDTD ngày 27/12/2018, Hợp đồng cho vay số SME/SGN/19/0063/HDTD ngày 30/05/2019, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 03/06/2019 với nội dung tóm tắt như sau:

SỐ TIỀN THỜI NGÀY

MỤC KHẾ ƯỚC

NGÀY

VAY

HẠN GIẢI

ĐÍCH

LÃI SUẤT VAY NHẬN NỢ

ĐẾN HẠN

(ĐỒNG)

VAY NGÂN

VAY

Lãi suất cho vay Lần: 01/Số:

24 %/năm cố định SME/SGN/

06 tháng, sau đó

2

Bổ sung 18/0112/H 100.000.000

lãi suất được điều

24

12/10/2018 12/10/2020 vốn lưu

DTD-01

đồng

chỉnh 06 tháng/01

tháng

động ngày

lần ngày điều 12/10/2018

chỉnh đầu tiên

12/04/2019.

Lãi suất cho vay Lần: 02/Số:

24 %/năm cố định SME/SGN/

06 tháng, sau đó

Bổ sung 18/0112/H 100.000.000 24

lãi suất được điều

25/10/2018 25/10/2020 vốn lưu

DTD-02

đồng

tháng

chỉnh 06 tháng/01

động ngày

lần ngày điều 25/10/2018

chỉnh đầu tiên

12/04/2019.

Lãi suất cho vay Lần: 01/Số:

7.8 %/năm cố SME/SGN/

định 01 năm, sau

Mua sắm 18/0155/H 441.350.000 60

đó lãi suất được

28/12/2018 10/12/2023 tài sản cố

DTD-01

đồng

tháng

điều chỉnh 01

định ngày

tháng/01 lần ngày 28/12/2018

điều chỉnh đầu

tiên 28/12/2019.

Lãi suất cho vay Lần: 02/Số:

25.7 %/năm cố SME/SGN/

định 06 tháng, sau

Bổ sung 18/0155/H 237.650.000 60

đó lãi suất được

28/12/2018 10/12/2023 vốn lưu

DTD-02

đồng

tháng

điều chỉnh 06

động ngày

tháng/01 lần ngày 28/12/2018

điều chỉnh đầu

tiên 28/06/2019. Lần: 01/Số: 185.000.000

Bổ sung Lãi suất cho vay

24

04/06/2019 30/05/2021

SME/SGN/ đồng

vốn lưu 21 %/năm cố định 19/0063/H

động

03 tháng, sau đó DTD-01

lãi suất được điều ngày

chỉnh 01 tháng/01 04/06/2019

lần ngày điều

chỉnh đầu tiên

28/12/2019.

Theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 03/06/2019, ông Trương Văn Đ – Chủ Hộ kinh doanh B còn có dư nợ thẻ tín dụng quá hạn tại V với số dư nợ tạm tính đến ngày 15/3/2022 là: 110.220.750 đồng;

Ngoài ra, ông Trương Văn Đ có ký với V Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số SME/SGN/18/0112/HDHMTC ngày 11/10/2018 với hạn mức thấu chi là 400.000.000 đồng, lãi suất cho vay trong hạn là 27%/năm.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, V và các bên đã thống nhất áp dụng các biện pháp bảo đảm sau:

Thế chấp 01 Xe Ô Tô bán tải, nhãn hiệu: MAZDA, số loại: BT-50, số khung: MM7UR4DD7KW896622, số máy: P4AT2700023, biển số: 51D-290.59 thuộc Quyền sở hữu của Hộ kinh doanh B theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 426962 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2018 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số SME/SGN/18/0155/HDTC ngày 27/12/2018 và Chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm số 1312404878 của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 28 tháng 12 năm 2018.

Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Trương Văn Đ theo Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0112/HDBL-01 ngày 11/10/2018, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0112/HDBL.01, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0155/HDBL.01 ngày 27/12/2018, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/19/0063/HDBL.01 ngày 60/05/2019, Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL/VPBANK-01 ngày 03/06/2019.

Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của bà Bùi Thị Bảo Y theo Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0112/HDBL-02 ngày 11/10/2018, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0112/HDBL.02, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0155/HDBL.02 ngày 27/12/2018, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/19/0063/HDBL.02 ngày 60/05/2019.

Trong quá trình sử dụng vốn vay, ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. V đã nhiều lần liên hệ và làm việc với ông Trương Văn Đ để yêu cầu hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến nay ông Trương Văn Đ vẫn tiếp tục không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ và cố tình kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên toàn bộ khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn và chịu lãi suất quá hạn.

Tạm tính đến ngày 15/03/2022, Ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh đã thanh toán cho V cụ thể:

S

KUNN

Trả nợ gốc

Trả nợ lãi

Tổng cộng STT

0

LD1828500656

48,100,374

21,101,559

69,201,933 1

(SME/SGN/18/0112/HDTD-01)

0

LD1829801523

48,601,206

19,940,934

68,542,140 2

(SME/SGN/18/0112/HDTD-02)

0

LD1915514463

46,500,000

15,219,276

61,719,276 3

(SME/SGN/19/0063/HDTD-1)

0

LD1836201890

80,960,000

27,408,985

108,368,985 4

(SME/SGN/18/0155/HDTD-01)

0

LD1836201959

26,955,003

49,932,576

76,887,579 5

(SME/SGN/18/0155/HDTD-02)

Tổng cộng

251,116,583 133,603,330 384,719,913

Tạm tính đến hết ngày 15/03/2022, ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B còn nợ các khoản sau tại V:

Nợ gốc quá hạn : 812,883,417 đồng

Nợ lãi quá hạn

: 578,088,695 đồng

Nợ thấu chi

: 897,354,026 đồng

Nợ thẻ tín dụng

: 110,220,750 đồng

Tổng cộng

: 2,398,546,888 đồng (Hai tỷ, ba trăm chín mươi tám triệu, năm trăm bốn mươi sáu nghìn, tám trăm tám mươi tám đồng).

Phần yêu cầu của Người khởi kiện:

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng.

Căn cứ khoản 1 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN

Căn cứ về việc tính lãi phạt, Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14-4-2010 của Ngân hàng Nhà nước.

Căn cứ Khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005.

Căn cứ khoản 1 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2018.

Kính đề nghị Quý Tòa thụ lý vụ án xem xét và phán quyết buộc:

1. ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B phải trả ngay một lần cho V tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 15/03/2022 là:

Nợ gốc quá hạn : 812,883,417 đồng

Nợ lãi quá hạn

: 578,088,695 đồng

Nợ thấu chi

: 897,354,026 đồng

Nợ thẻ tín dụng

: 110,220,750 đồng

Tổng cộng

: 2,398,546,888 đồng (Hai tỷ, ba trăm chín mươi tám triệu, năm trăm bốn mươi sáu nghìn, tám trăm tám mươi tám đồng).

Ngoài ra, kể từ ngày 16/03/2022, ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V.

2. Trường hợp ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B không thanh toán theo yêu cầu của khoản 1 nêu trên, V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi khoản nợ cho V, chi tiết tài sản thế chấp như sau:

01 Xe Ô Tô bán tải, nhãn hiệu: MAZDA, số loại: BT-50, số khung: MM7UR4DD7KW896622, số máy: P4AT2700023, biển số: 51D-290.59 thuộc Quyền sở hữu của Hộ kinh doanh B theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 426962 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2018;

3. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp nêu trên không đủ để thanh toán nợ cho Vthì ông Trương Văn Đ và bà Bùi Thị Bảo Y phải tiếp tục thanh toán cho V theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Kim O có ý kiến trình bày và yêu cầu như trên.

Bị đơn: ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ, liên quan: Ông Trương Văn Đ và Bà Bùi Thị Bảo Y vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCP V khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn tại địa bàn huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Trương Văn Đ, Bà Bùi Thị Bảo Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Theo Hợp đồng cho vay số SME/SGN/18/0112/HDTD ngày 11/10/2018, Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số SME/SGN/18/0112/HDHMTC ngày 11/10/2018, Hợp đồng cho vay số SME/SGN/18/0155/HDTD ngày 27/12/2018, Hợp đồng cho vay số SME/SGN/19/0063/HDTD ngày 30/05/2019, thì ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B có vay vốn tại V Sài Gòn có nội dung như sau:

SỐ TIỀN THỜI NGÀY

MỤC KHẾ ƯỚC

NGÀY

VAY

HẠN GIẢI

ĐÍCH

LÃI SUẤT VAY NHẬN NỢ

ĐẾN HẠN

(ĐỒNG)

VAY NGÂN

VAY

Lãi suất cho vay Lần: 01/Số:

24 %/năm cố định SME/SGN/

06 tháng, sau đó

2

Bổ sung 18/0112/H 100.000.000

lãi suất được điều

24

12/10/2018 12/10/2020 vốn lưu

DTD-01

đồng

chỉnh 06 tháng/01

tháng

động ngày

lần ngày điều 12/10/2018

chỉnh đầu tiên

12/04/2019.

Lãi suất cho vay Lần: 02/Số:

24 %/năm cố định SME/SGN/

06 tháng, sau đó

Bổ sung 18/0112/H 100.000.000 24

lãi suất được điều

25/10/2018 25/10/2020 vốn lưu

DTD-02

đồng

tháng

chỉnh 06 tháng/01

động ngày

lần ngày điều 25/10/2018

chỉnh đầu tiên

12/04/2019.

Lãi suất cho vay Lần: 01/Số:

7.8 %/năm cố SME/SGN/

định 01 năm, sau

Mua sắm 18/0155/H 441.350.000 60

đó lãi suất được

28/12/2018 10/12/2023 tài sản cố

DTD-01

đồng

tháng

điều chỉnh 01

định ngày

tháng/01 lần ngày 28/12/2018

điều chỉnh đầu

tiên 28/12/2019.

Lãi suất cho vay Lần: 02/Số:

25.7 %/năm cố SME/SGN/

định 06 tháng, sau

Bổ sung 18/0155/H 237.650.000 60

đó lãi suất được

28/12/2018 10/12/2023 vốn lưu

DTD-02

đồng

tháng

điều chỉnh 06

động ngày

tháng/01 lần ngày 28/12/2018

điều chỉnh đầu

tiên 28/06/2019.

Lãi suất cho vay Lần: 01/Số:

21 %/năm cố định SME/SGN/

03 tháng, sau đó

Bổ sung 19/0063/H 185.000.000

lãi suất được điều

24

04/06/2019 30/05/2021 vốn lưu

DTD-01

đồng

chỉnh 01 tháng/01

động ngày

lần ngày điều 04/06/2019

chỉnh đầu tiên

28/12/2019.

Theo Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm ngày 03/06/2019, thì ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B có mở thẻ tín dụng tại V.

Theo Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản số SME/SGN/18/0112/HDHMTC ngày 11/10/2018, thì ông Trương Văn Đ vay hạn mức thấu chi của V, với hạn mức thấu chi là 400.000.000 đồng, lãi suất cho vay trong hạn là 27%/năm.

Biện pháp bảo đảm cho khoản vay trên như sau:

Thế chấp 01 Xe Ô Tô bán tải, nhãn hiệu: MAZDA, số loại: BT-50, số khung: MM7UR4DD7KW896622, số máy: P4AT2700023, biển số: 51D-290.59 thuộc Quyền sở hữu của Hộ kinh doanh B theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 426962 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2018 theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số SME/SGN/18/0155/HDTC ngày 27/12/2018 và Chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm số 1312404878 của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 28 tháng 12 năm 2018.

Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Trương Văn Đ theo Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0112/HDBL-01 ngày 11/10/2018, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0112/HDBL.01, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0155/HDBL.01 ngày 27/12/2018, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/19/0063/HDBL.01 ngày 60/05/2019, Hợp đồng bảo lãnh số 01/HĐBL/VPBANK-01 ngày 03/06/2019.

Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của bà Bùi Thị Bảo Y theo Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0112/HDBL-02 ngày 11/10/2018, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0112/HDBL.02, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/18/0155/HDBL.02 ngày 27/12/2018, Hợp đồng bảo lãnh số SME/SGN/19/0063/HDBL.02 ngày 60/05/2019.

Ngân hàng TMCP V xác định:

Trong quá trình sử dụng vốn vay, ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. V đã nhiều lần liên hệ và làm việc với ông Trương Văn Đ để yêu cầu hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến nay ông Trương Văn Đ vẫn tiếp tục không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ và cố tình kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên toàn bộ khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn và chịu lãi suất quá hạn.

Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc:

1. Ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B phải trả ngay một lần cho V tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 15/03/2022 là:

Nợ gốc quá hạn : 812,883,417 đồng

Nợ lãi quá hạn

: 578,088,695 đồng

Nợ thấu chi

: 897,354,026 đồng

Nợ thẻ tín dụng

: 110,220,750 đồng

Tổng cộng

: 2,398,546,888 đồng (Hai tỷ, ba trăm chín mươi tám triệu, năm trăm bốn mươi sáu nghìn, tám trăm tám mươi tám đồng).

Ngoài ra, kể từ ngày 16/03/2022, ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V.

2. Trường hợp ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B không thanh toán theo yêu cầu của khoản 1 nêu trên, V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi khoản nợ cho V, chi tiết tài sản thế chấp như sau:

01 Xe Ô Tô bán tải, nhãn hiệu: MAZDA, số loại: BT-50, số khung: MM7UR4DD7KW896622, số máy: P4AT2700023 , biển số: 51D-290.59 thuộc Quyền sở hữu của Hộ kinh doanh B theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 426962 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2018;

3. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp nêu trên không đủ để thanh toán nợ cho V thì ông Trương Văn Đ và bà Bùi Thị Bảo Y phải tiếp tục thanh toán cho V theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc:

1. Ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B phải trả ngay một lần cho V tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 15/03/2022 là:

Nợ gốc quá hạn : 812,883,417 đồng

Nợ lãi quá hạn

: 578,088,695 đồng

Nợ thấu chi

: 897,354,026 đồng

Nợ thẻ tín dụng

: 110,220,750 đồng

Tổng cộng

: 2,398,546,888 đồng (Hai tỷ, ba trăm chín mươi tám triệu, năm trăm bốn mươi sáu nghìn, tám trăm tám mươi tám đồng).

Ngoài ra, kể từ ngày 16/03/2022, ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V.

2. Trường hợp ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B không thanh toán theo yêu cầu của khoản 1 nêu trên, V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi khoản nợ cho V, chi tiết tài sản thế chấp như sau:

01 Xe Ô Tô bán tải, nhãn hiệu: MAZDA, số loại: BT-50, số khung: MM7UR4DD7KW896622, số máy: P4AT2700023, biển số: 51D-290.59 thuộc Quyền sở hữu của Hộ kinh doanh B theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 426962 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2018;

3. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp nêu trên không đủ để thanh toán nợ cho V thì ông Trương Văn Đ và bà Bùi Thị Bảo Y phải tiếp tục thanh toán cho V theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V được Tòa án chấp nhận nên ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B phải chịu 79.970.938 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền 33.909.354 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0080911 ngày 27/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 90, Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.

1. 1. Buộc Ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B phải trả ngay một lần cho V tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 15/03/2022 là:

Nợ gốc quá hạn : 812,883,417 đồng

Nợ lãi quá hạn

: 578,088,695 đồng

Nợ thấu chi

: 897,354,026 đồng

Nợ thẻ tín dụng

: 110,220,750 đồng

Tổng cộng

: 2,398,546,888 đồng (Hai tỷ ba trăm chín mươi tám triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn tám trăm tám mươi tám đồng).

Ngoài ra, kể từ ngày 16/03/2022, ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V.

1.2. Trường hợp ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B không thanh toán theo yêu cầu của khoản 1 nêu trên, V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi khoản nợ cho V, chi tiết tài sản thế chấp như sau:

01 Xe Ô Tô bán tải, nhãn hiệu: MAZDA, số loại: BT-50, số khung: MM7UR4DD7KW896622, số máy: P4AT2700023 , biển số: 51D-290.59 thuộc Quyền sở hữu của Hộ kinh doanh B theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 426962 do Phòng Cảnh sát Giao thông Công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/12/2018;

1.3. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp nêu trên không đủ để thanh toán nợ cho V thì ông Trương Văn Đ và bà Bùi Thị Bảo Y phải tiếp tục thanh toán cho V theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trương Văn Đ – Chủ hộ kinh doanh B phải chịu 79.970.938 đồng (bảy mươi chín triệu chín trăm bảy mươi nghìn chín trăm ba mươi tám đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền 33.909.354 đồng (ba mươi ba triệu chín trăm lẻ chín nghìn ba trăm năm mươi bốn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2019/0080911 ngày 27/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.

3. Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ