- Tranh chấp gì? án hình sự — "Khà Văn L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH ––––––––––– Bản án số: 08/2022/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 17-3-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lường Khắc Tiệp;
Ông Trần Tiến Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2022/TLST - HS ngày 12 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2022/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Khà Văn L, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1987 tại huyện M, tỉnh Hoà Bình; nơi cư trú: Xóm Khoè, xã Xăm Khoè, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khà Văn Kh, sinh năm 1957 và bà Vì Thị Th, sinh năm 1951 bị cáo có vợ là Hà Thị Ph, sinh năm 1991 và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không, nhân thân: Không có án tích, chưa bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa, có sử dụng, nghiện chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 27/10/2021 chuyển tạm giam ngày 05/11/2021. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Khà Văn Kh, sinh năm 1957, nơi cư trú: Xóm Kh, xã X, huyện M, tỉnh Hoà Bình. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Vì Văn Th, sinh năm 1977, nơi cư trú: Xóm Kh, xã X, huyện M, tỉnh Hoà Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 27/10/2021, Tổ công tác Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình phối hợp cùng Công an xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình làm nhiệm vụ tại xóm L, xã Ch, huyện M tỉnh Hòa Bình phát hiện Khà Văn L điều khiển xe mô tô BKS 28F5 – 687x có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác dừng xe kiểm tra bắt quả tang Khà Văn L đang tàng trữ trái phép chất ma tuý, tang vật thu giữ là 01 phong bì màu trắng bên trong có 01 gói nilon màu xanh được dán băng dính màu đen bên trong có chứa các viên nén màu hồng và màu xanh. L khai nhận mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật và dẫn giải Khà Văn L về trụ sở Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình để điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra Khà Văn L khai nhận: L từng đi làm việc tại xã P, huyện Mai Châu có quen người đàn ông dân tộc Mông tên là S khoảng 40 tuổi, cao khoảng 160 cm, L không biết rõ họ tên đầy đủ và chỗ ở của S, chỉ biết S có bán ma tuý. Chiều ngày 26/10/2021, L gọi điện cho S hỏi mua 2.500.000 đồng ma tuý tổng hợp với mục đích sử dụng cho bản thân và ai hỏi mua sẽ bán lại với giá 50.000 đồng 01 viên. Súa đồng ý bán cho L và hẹn sáng ngày 27/10/2021 gặp ở thị trấn Mai Châu để giao dịch. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/10/2021, Khà Văn L điều khiển xe mô tô BKS 28F5 – 679x đến vị trí mà L và S đã hẹn trước là lối rẽ vào N, đến nơi L thấy S đã chờ sẵn, Súa đưa cho L 01 phong bì màu trắng bên trong có 01 gói nilon màu xanh được dán băng dính màu đen bên trong có chứa 79 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh, L cầm lấy và đưa cho S 2.500.000 đồng rồi điều khiển xe đi về, khi đi đến địa phận xóm L, xã Ch thì bị tổ công tác Công an huyện Mai châu phối hợp cùng Công an xã Chiềng Châu bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại Kết luận giám định số: 322/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 03/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Các viên nén màu hồng và màu xanh trong phong bì niêm phong thu giữ của Khà Văn L gửi giám định có tổng khối lượng 7,76 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 03/CT-VKS-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Khà Văn L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Khà Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Khà Văn L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2021.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có điều kiện về tài sản, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên:
- Tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh than, sử dụng sim số 0348.023.69x bị nứt vỡ màn hình, điện thoại cũ đã qua sử dụng, là phương tiện dùng vào phạm tội L dùng để liên hệ với Súa để trao đổi về việc mua bán ma tuý.
- Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu STAR, màu xanh, BKS: 28F5 – 687x, xe cũ đã qua sử dụng kèm chìa khoá xe cho ông Khà Văn Kh.
Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên S là người L khai là đã bán ma túy cho mình, quá trình điều tra không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không có căn cứ để mở rộng điều tra nên không đề nghị xét đến.
Đối với ông Khà Văn Kh, việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma tuý ông Kh không biết và không có lỗi nên không có căn cứ đề nghị xử lý.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử không thắc mắc gì, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, nguyên nhân vi phạm pháp luật là không làm chủ được bản thân do nghiện ma túy, tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời. Sau sự việc xảy ra đã thành khẩn khai báo mong được giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Khà Văn Kh: Chiếc xe mô tô BKS 28F5 – 687x là xe của ông Kh mua lại từ anh Vì Văn Th là cháu họ từ đầu năm 2021 với giá 1.500.000 đồng. Ông Kh thường xuyên để xe dưới gầm nhà sàn, chìa khoá xe treo ở xe hoặc ở cột nhà. Ngày 27/10/2021 L lấy xe đi, việc L dùng xe mô tô đi mua ma tuý ông Kh không biết, mong Hội đồng xét xử trả lại xe cho ông.
Ý kiến của người làm chứng Vì Văn Th: Anh Th được bán cho ông Kh xe mô tô 28F5 – 687x vào đầu năm 2021 với giá là 1.500.000 đồng. Chiếc xe này anh mua từ một cửa hàng sửa chữa xe mô tô tại T4, thị trấn M từ khoảng 3 đến 4 năm trước với giá là 4.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/10/2021, tại xóm L, xã Ch, huyện M, tỉnh Hòa Bình, Khà Văn L bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 7,76 gam Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Khà Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Chứng cứ xác định không có tội: Không có
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp để loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Song bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ tính chất mức độ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Khà Văn L phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Khà Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Khà Văn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 27/10/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý còn lại sau khi giám định, được niêm phong trong 01 phong bì.
- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh than, sử dụng sim số 0348.023.697.
- Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu STAR, màu xanh, BKS: 28F5 – 687x, xe cũ đã qua sử dụng kèm chìa khoá xe cho ông Khà Văn Kh, sinh năm 1957, nơi cư trú: Xóm Kh xã X, huyện M, tỉnh Hoà Bình.
(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 15/THA ngày 18/01/2022 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Khà Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh HB; - STP tỉnh HB; - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT; - VKSND huyện MC; - Cơ quan ĐT; Nhà tạm giữ CA huyện MC; - Chi cục THA dân sự; - Hồ sơ THAHS; - UBND xã X; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Phạm Thanh Tùng |