- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trọng Tr - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê T Tr – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HS-PT Ngày: 11/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ Y
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Việt Hùng;
Các thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Trần Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nin - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Y.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Y tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 11 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Y, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 96/2021/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Lê T Tr do có kháng cáo của bị cáo Lê T Tr đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 35/2021/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Đông H, tỉnh Phú Y.
* Bị cáo có kháng cáo: Lê T Tr, sinh năm 1996, tại tỉnh Phú Y. Nơi cư trú: Thôn Phước N, xã Hòa B 1, huyện Tây H, tỉnh Phú Y; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M, sinh năm 1971 và bà Lê Thị M, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang tại ngoại, có mặt.
* Bị hại: Nguyễn Thanh L, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn Phước Lộc 2, xã Hòa T, thị xã Đông H, tỉnh Phú Y. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 07/12/2020, Lê T Tr điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 78F1-376.80 (do Tr đứng tên sở hữu) trong tình trạng có nồng độ cồn (55,85mg/100ml máu) lưu hành hướng Đông – Tây trên Quốc lộ ĐT 645. Khi đến Km 0+500m đoạn thôn Phước L 2, xã Hòa T, thị xã Đông H, Lê T Tr điều khiển xe sang phần đường bên trái vượt xe ô tô tải lưu hành cùng chiều (lưu hành không đúng phần đường) tông vào xe mô tô mang biển kiểm soát 78G1-316.79 (Phùng Châu N đứng tên sở hữu) do Đặng Ngọc Q điều khiển chở Nguyễn Thanh L lưu hành ngược chiều. Hậu quả làm Nguyễn Thanh L bị thương tích, hai xe mô tô bị hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 41/TgT ngày 09/02/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Y kết luận: Nguyễn Thanh L bị thương tích 65%.
Tại bản định giá tài sản số 48/HĐĐG ngày 21/6/2021 của Hội đồng định giá thị xã Đông H kết luận: xe mô tô 78G1-316-79 thiệt hại 950.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HS-ST ngày 20/9/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Đông H đã tuyên Lê T Tr phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” áp dụng Điểm b, Khoản 2, Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Lê T Tr 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/10/2021, bị cáo Lê T Tr kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê T Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê T Tr – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lê T Tr tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ vụ tai nạn giao thông và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phúc thẩm đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 07/12/2020 tại Km + 500m Quốc lộ ĐT 645 đoạn thôn Phước Lộc 2, xã Hòa T, thị xã Đông H, Lê T Tr điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 78F1-376.80 trong tình trạng có nồng độ cồn (55,85mg/100ml máu) lưu hành theo hướng Đông - Tây đi không đúng phần đường quy định nên đã tông vào xe mô tô mang biển kiểm soát 78G1-316.79 do Đặng Ngọc Q điều khiển chở Nguyễn Thanh L lưu hành ngược chiều, hậu quả vụ tai nạn làm Nguyễn Thanh L bị thương tích 65%, xe mô tô 78G1-316.79 bị hư hỏng thiệt hại 950.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia “Sửa đổi, bổ sung Khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau: “8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”; Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Lê T Tr về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm b, Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo Lê T Tr Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh luật giao thông đường bộ khi điều khiển xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, gây hậu quả nghiệm trọng, làm cho người bị hại bị thương tích với tỷ lệ là 65%, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc. Khi lượng hình án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng đó là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người người bị hại và được người bị hại làm đơn bãi nãi quy định tại Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê T Tr 01 năm tù, không cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo và gia đình tiếp tục, thường xuyên đến thăm hỏi người bị hại chứng tỏ bị cáo thật sự ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo, đây là tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật nhưng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Bị cáo Lê T Tr kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê T Tr – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt;
Tuyên bố: Bị cáo Lê T Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê T Tr – 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Bị cáo Lê T Tr không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Quang
Võ Nguyên Tùng
Nguyễn Việt Hùng
| Nơi nhận: - TAND cấp cao Đà Nẵng (1); - TAND thị xã Đông Hòa (2); - VKSND tỉnh Phú Y (2); - Công an thị xã Đông Hòa (2) - Sở tư pháp (1); - Người tham gia tố tụng (1); - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |