vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

Tòa án Khu vực - QK4, án Quân khu 4 Tuyên án 27/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Văn H phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUÂN KHU 4

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày 27 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 4

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1// Nguyễn Duy Nam

Các Hội thẩm quân nhân: - 2// Nguyễn Đăng Tuấn

- 2// Dương Văn Vinh

- Thư ký phiên tòa: 2/ Nguyễn Thị Cẩm Tú - Thư ký Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 4.

- Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 tham gia phiên toà: 4/ Lê Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại Phòng xử án Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 4 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Lê Ngọc C; sinh ngày 26/02/1999; quê quán: xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: thôn 7, xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; học vấn: 12/12; con ông: Lê Ngọc T và bà: Lê Thị L; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 07/4/2022 đến ngày 10/4/2022: có mặt.

2. Lữ Văn H; sinh ngày 16/7/1981; quê quán: thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: khu phố XS, thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: bộ đội; cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: 3/ QNCN, nhân viên Kho K, Cục Q, Tổng cục K, Bộ Quốc phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; học vấn: 12/12; con ông: Lữ Văn C và bà: Lê Thị C; có vợ: Lê Thị T và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 07/4/2022 đến ngày 10/4/2022: có mặt.

3. Nguyễn Quốc Q; sinh ngày 20/5/1989; quê quán: xã NT, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: xã NT, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Quốc V và bà: Nguyễn Thị V; có vợ: Phạm Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2015 và con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 07/4/2022 đến ngày 10/4/2022: có mặt.

4. Đỗ Tuấn A; sinh ngày 25/7/1982; quê quán: xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: thôn 7, xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; học vấn: 9/12; con ông: Đỗ Huy P và bà: Nguyễn Thị L; có vợ: Đỗ Thị C và và 02 con, con lớn sinh năm 2013 và con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 07/4/2022 đến ngày 10/4/2022: có mặt.

5. Nguyễn Văn H; sinh ngày 08/4/1990; quê quán: xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: thôn 7, xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Văn M và bà: Lê Thị H; có vợ: Bùi Thị S và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011 và con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 07/4/2022 đến ngày 10/4/2022: có mặt.

- Người làm chứng: Nguyễn Thị L: vắng mặt.

Lê Văn T: vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 07/4/2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà bà Nguyễn Thị L (thôn 7, xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá) đang có một số đối tượng đánh bạc. Tổ công tác của Công an huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Lữ Văn H, Nguyễn Quốc Q, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Văn H và Lê Ngọc C đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức “ba cây” và thu giữ tại xới bạc 5.700.000 đồng, 36 lá bài tu lơ khơ.

Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 23/6/2022 của Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 truy tố các bị can Lữ Văn H, Nguyễn Quốc Q, Đỗ Tuấn A, Nguyễn Văn H và Lê Ngọc C về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Ngọc C khai: khoảng 14 giờ 20 phút ngày 07/4/2022, C đến nhà bà Nguyễn Thị L để uống nước. Tại đây, C thấy Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Văn H, Đỗ Tuấn A đang ngồi chơi bài uống nước thì C cũng tham gia. Được một lúc, C rủ mọi người đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh “ba cây” thì tất cả cùng đồng ý. C sử dụng số tiền 450.000 đồng để đánh bạc và trong quá trình chơi không vay mượn hay sử dụng tài sản gì khác để đánh bạc. Mọi người đánh được một lúc thì có Lữ Văn H đến và cùng tham gia đánh bạc. Khi mọi người đánh bài uống nước thì bà L không ý kiến gì nhưng khi các bị cáo chuyển sang đánh bạc thì bà L không cho phép các bị cáo đánh bài ở quán của bà nữa. Khi bị công an huyện Ngọc Lặc bắt quả tang đã thu giữ trên xới bạc 5.700.000 đồng và 36 lá bài tu lơ khơ là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Bị cáo Lữ Văn H khai: khoảng 14 giờ 45 phút ngày 07/4/2022, H đến nhà bà L thì thấy C, Q, Tuấn A và H đang đánh bạc nên H cũng xin tham gia. H sử dụng số tiền 3.950.000 đồng để đánh bạc và trong quá trình chơi H không vay mượn, cũng không sử dụng tài sản gì khác để đánh bạc. Khi công an huyện Ngọc Lặc phát hiện, bắt quả tang đã thu giữ tiền và vật chứng khác như C đã khai. Trong quá trình công tác, H được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba. Bố đẻ của H là người có công với cách mạng được hưởng trợ cấp hàng tháng đối với người bị nhiễm chất độc hoá học và được tặng nhiều giấy khen.

Bị cáo Nguyễn Văn H khai: khoảng 14 giờ ngày 07/4/2022, H và Nguyễn Quốc Q đến quán nhà bà Nguyễn Thị L để uống nước. Một lúc sau có Đỗ Tuấn A cũng đến uống nước nên cả ba người rủ nhau đánh bài ghi điểm trả tiền nước. Khi đang chơi thì có Lê Ngọc C cũng đến và xin chơi cùng. Chơi được một lúc thì C rủ mọi người đánh bài ăn tiền thì H, Q và Tuấn A đồng ý. Hình thức đánh bạc là đánh “ba cây” chống cửa 20.000 đồng. H sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc và trong quá trình chơi không vay mượn hay sử dụng tài sản gì khác để đánh bạc. Mọi người đánh bạc được một lúc thì có Lữ Văn H đến và xin chơi cùng. Các bị cáo sử dụng bộ bài có tại quán nhà bà L để chơi và bà L biết H, Q và Tuấn A đánh bài ghi điểm trả tiền nước nên không ngăn cản. Khi biết các bị cáo chuyển sang đánh bạc thì bà L đã ngăn cản không cho các bị cáo đánh bạc tại quán của bà nữa.

Bị cáo Nguyễn Quốc Q thừa nhận lời khai của các bị cáo khác là đúng sự thật. Q hỏi mua bộ bài tu lơ khơ để chơi nhưng thấy thấy dưới gầm bàn ở quán bà L có nên Q đã lấy để mọi người chơi. Q sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc và trong quá trình chơi không vay mượn hay sử dụng tài sản gì khác để đánh bạc. Bố, mẹ đẻ của Q được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Bị cáo Đỗ Tuấn A khai đã sử dụng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc và trong quá trình chơi không vay mượn hay sử dụng tài sản gì khác để đánh bạc. Các bị cáo có xin bà L đánh bài uống nước thì được bà đồng ý nhưng bà L không biết các bị cáo sau đó chuyển sang đánh bạc. Bà L không thu tiền gì và các bị cáo cũng không hứa hẹn hay đưa cho bà L tài sản gì.

Lời khai người làm chứng Nguyễn Thị L có trong hồ sơ vụ án thể hiện: khoảng 14 giờ ngày 07/4/2022 có H, Q và Tuấn A đến quán của bà L uống nước và có xin bà đánh bài ghi điểm trả tiền nước thì bà đồng ý và bà còn cho mượn bộ bài tu lơ khơ để chơi. Khi các bị cáo chuyển sang đánh bạc thì bà không biết vì bà vào trong nằm nghỉ. Tỉnh dậy thấy các bị cáo đánh bạc nên bà đã đuổi đi không cho đánh nữa. Các bị cáo chưa kịp nghỉ thì đã bị công an phát hiện, bắt quả tang. Các lá bài các bị cáo sử dụng đánh bạc bị thu giữ đã cũ nên bà không nhận lại.

Lời khai của người làm chứng Lê Văn T có trong hồ sơ vụ án thể hiện: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/4/2022 anh T đến quán nhà bà L chơi thì thấy C, H, Q, Tuấn A đang đang bài uống nước. Một lúc sau chuyển sang đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh “ba cây” chống cửa 20.000 đồng, lúc này có thêm anh H cũng đến tham gia đánh bạc. Khi công an huyện Ngọc Lặc bắt quả tang đã thu giữ tại xới bạc 5.700.000 đồng.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 23/6/2022 của Viện kiểm sát quân sự khu vực 41. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các đặc điểm về nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc C, Lữ Văn H, Nguyễn Văn H, Đỗ Tuấn A và Nguyễn Quốc Q phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tất cả các bị cáo; áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q và bị cáo H; riêng bị cáo Lữ Văn H còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 17; điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Ngọc C từ 26 đến 28 triệu đồng; xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Văn H, Lữ Văn H và Đỗ Tuấn A từ 23 đến 25 triệu đồng. Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng. Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền 5.700.000 đồng; tịch thu, tiêu huỷ 36 lá bài tu lơ khơ là các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến gì về lời luận tội của Kiểm sát viên mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên toà. Vì vậy có đủ chứng cứ để khẳng định các bị cáo Lê Ngọc C, Lữ Văn H, Nguyễn Quốc Q, Nguyễn Văn H và Đỗ Tuấn A đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “ba cây” tại nhà bà Nguyễn Thị L (thôn 7, xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá) vào chiều ngày 07/4/2022. Số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là 5.700.000 đồng, trong đó số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc của từng bị cáo là: Lê Ngọc C sử dụng 450.000 đồng, Lữ Văn H sử dụng 3.950.000 đồng, Nguyễn Quốc Q sử dụng 800.000 đồng, Đỗ Tuấn A sử dụng 300.000 đồng và Nguyễn Văn H sử dụng 200.000 đồng. Các bị cáo là những người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc bị pháp luật cấm nhưng cho rằng thực hiện đánh bạc với số tiền không nhiều chỉ nhằm vui chơi nên đã vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là lần đầu tiên các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lữ Văn H còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác” quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do quá trình công tác được tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba. Bố đẻ của bị cáo H là là người có công với cách mạng, được hưởng trợ cấp chất độc da cam; bố, mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Quốc Q được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Vì vậy bị cáo H và bị cáo Q còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi đánh bạc của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự cộng cộng được quy định trong Bộ luật Hình sự, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Tuy nhiên, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, có tính chất ít nghiêm trọng. Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc mà không có sự bàn bạc, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng người. Hội đồng xét xử xem xét tính chất của đồng phạm thấy rằng cần áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự để buộc các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm hình sự trong vai trò là người thực hành về tổng số tiền 5.700.000 đồng đã sử dụng để đánh bạc. Các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét về vai trò, mức độ tham gia của các bị cáo thì thấy rằng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc có sự nhiều ít khác nhau nhưng không lớn. Lê Ngọc C là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi đánh bạc. Nguyễn Quốc Q là người lấy bộ bài ở nhà bà L để mọi người đánh bạc. Lữ Văn H là người sử dụng số tiền nhiều nhất để đánh bạc nhưng H lại là người vào sau và có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét về vai trò của đồng phạm, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt cho phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo song chỉ cần áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự để xử phạt tiền cũng đủ để giáo dục các bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật.

Đối với bà Nguyễn Thị L là chủ quán bán hàng nơi các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc đã không đồng ý cho các bị cáo sử dụng nhà của mình để đánh bạc và bà L đã có hành động can ngăn. Mặt khác, các bị cáo không hứa hẹn hay đưa cho bà L tài sản gì. Vì vậy, chưa có đủ căn cứ để xác định trách nhiệm hình sự đối với bà L.

Về xử lý vật chứng: đối với số tiền 5.700.000 đồng được các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 36 lá bài tu lơ khơ mà các bị cáo đã lấy tại nhà bà L để đánh bạc là công cụ phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng và bà L đã từ chối nhận lại. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu huỷ.

Về án phí: Căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc C, Lữ Văn H, Nguyễn Văn H, Nguyễn Quốc Q và Đỗ Tuấn A phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 3 Điều 17; khoản 1, khoản 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Ngọc C 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng; xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn H, Đỗ Tuấn A mỗi bị cáo 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 3 Điều 17; khoản 1, khoản 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Q 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, khoản 3 Điều 17; khoản 1, khoản 3 Điều 35; điểm i, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Văn H 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền 5.700.000 (năm triệu, bảy trăm nghìn) đồng hiện đang được bảo quản tại số tài khoản 3949.0.9013364 của công an huyện Ngọc Lặc tại kho bạc nhà nước huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá; tịch thu, tiêu huỷ 36 lá bài tu lơ khơ có đặc điểm theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 23/6/2022 giữa Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 với Toà án quân sự Khu vực Quân khu 4.

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Ngọc C, Lữ Văn H, Nguyễn Văn H, Nguyễn Quốc Q và Đỗ Tuấn A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự Quân khu 4 trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ