vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 21/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 03-11-2021.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng gồm: Số ma túy được niêm phong trong hai phong bì đều có số 230/PC09-MT, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01, QT02, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có chứa 01 ống thủy tinh màu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 03-11-2021.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày 21-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Luân.

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân C, sinh năm 1992 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung H và bà Nguyễn Thị O; vợ là Hoàng Thị M và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03-11-2021 và bị tạm giam từ ngày 09-11-2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị N-Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 03-11-2021, Nguyễn Xuân C đang đứng ở ngã tư thị trấn Quế, huyện Kim Bảng thì gặp đối tượng tên T ở Tân Sơn, Kim Bảng (theo lời khai của C). Gặp nhau, T nói với C “Anh em mình mua ma túy về nhà nghỉ Pg chơi”. C bảo “Anh chỉ có hai trăm để anh trả tiền nhà nghỉ”. T nói “Anh chở em đi mua hàng”. C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển số 90B1-3xxx chở T đi đến lối rẽ vào sân vận động thị trấn Quế rồi dừng xe lại. T bảo C “Anh đợi em ở đây em vào mua hàng”, C nói “Ừ”. Nói xong T xuống xe đi vào khu vực sân vận động khoảng 30 phút sau thì quay lại rồi nói với C “Em mua được hàng rồi, đến nhà nghỉ P chơi thôi”. C đồng ý và điều khiển xe mô tô chở T đến nhà nghỉ P thuộc thôn M, xã N, huyện K. Đến nơi, T đứng ngoài, còn C vào phòng lễ tân gặp anh Lê Văn P là chủ nhà nghỉ hỏi thuê phòng, được anh P hướng dẫn và cho thuê phòng số 201, sau đó cả hai cùng lên phòng đóng cửa lại. T lấy trong người ra một túi nilon màu trắng bên trong có 02 viên nén màu hồng đưa cho C và nói “Anh cất đi, để tí cả hai cùng sử dụng”. C biết đó là 02 viên ma túy nên cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. T tiếp tục lấy trong người ra một túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng để ở mặt bàn nói “Để gói đá ở đây anh em mình cùng chơi”, sau đó T bảo C “Em đi lấy chai nước anh đóng cửa lại đi”. Sau khi T ra khỏi phòng, C ra đóng cửa và ở lại trong phòng được khoảng 10 phút sau thì Công an huyện Kim Bảng đến kiểm tra, bắt quả tang C đang tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Xuân C 01 túi nilon màu trắng bên trong có 02 viên nén màu hồng, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT01; thu tại mặt bàn trong phòng 201 cạnh vị trí bắt giữ Nguyễn Xuân C 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT02; thu tại túi quần phía trước bên trái của C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT03; thu tại túi quần phía sau bên phải của C số tiền 200.000 đồng, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT04; thu tại mặt bàn trong phòng 201 cạnh vị trí bắt giữ Nguyễn Xuân C 01 hộp nhựa màu trắng có nắp đậy bên trong có 01 ống nhựa, 01 ống thủy tinh, 01 nắp chai nhựa có đục 2 lỗ, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT05. Tạm giữ của Nguyễn Xuân C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S biển số 90B1-3xxx.

Tại bản Kết luận giám định số 230/PC09-MT ngày 08-11-2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu viên nén trong phong bì kí hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,190 gam loại: Methamphetamine. Mẫu tinh thể trong phong bì kí hiệu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,262 gam loại: Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-KB ngày 05-01-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng bao gói mẫu vật và bộ dụng cụ sử dụng ma túy; trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Redmi nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án về phần án phí; trả lại cho ông Nguyễn Trung H 01 chiếc xe mô tô biển số 90B1-3xxx.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân C khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, Bà Phạm Thị N là người bào chữa cho bị cáo C có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo có nhân thân tốt, thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, thân nhân có công với đất nước, hoàn cảnh gia đình khó khăn để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Nguyễn Trung H trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Nguyễn Xuân C và là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô biển số 90B1-3xxx. Ngày 03/11/2021 ông không biết bị cáo C sử dụng chiếc xe mô tô nêu trên của ông để phạm tội, nay ông đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe này cho ông để làm phương tiện đi lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Xuân C tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.

Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 18 giờ ngày 03/11/2021, tại nhà nghỉ P thuộc thôn M, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam, bị cáo Nguyễn Xuân C đang cất giấu trái phép trong người và trên mặt bàn phòng nghỉ 02 túi ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 0,452 gam với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Kim Bảng bắt quả tang.

Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lí chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới nếp sống văn minh, lành mạnh cũng như gây mất ổn định tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bố đẻ bị cáo được đơn vị quân đội tặng Bằng khen, ông ngoại bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến thắng hạng Hai nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm minh bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập, không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do đó miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Xuân C khai nhận là của người đàn ông tên T ở xã Tân Sơn đưa cho. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng đã xác minh có đối tượng tên là Nguyễn Xuân T, sinh năm 1994, trú tại thôn S, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập nhưng Nguyễn Xuân T không có mặt tại địa phương nên chưa có cơ sở làm rõ hành vi của T. Ngoài lời khai của C không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào xác định T đưa ma túy cho Cn. Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lí theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Lê Văn P là chủ nhà nghỉ P không biết C thuê phòng nghỉ 201 để sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý anh Phương về tội tổ chức hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Đối với số Methamphetamine đã thu giữ gửi đi giám định được hoàn trả lại là vật cấm tàng trữ và 01 hộp nhựa bên trong có 01 ống nhựa, 01 ống thủy tinh, 01 nắp chai nhựa là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ. Đối với số tiền 20.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi là tài sản chính đáng của bị cáo không liên quan đến tội phạm, do vậy cần trả lại cho bị cáo, song cần tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo về phần án phí. Đối với chiếc xe mô tô biển số 90B1-3xxx là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Trung H (bố đẻ bị cáo C), khi cho bị cáo mượn xe thì ông H không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, do vậy cần trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho ông H.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 03-11-2021.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu huỷ các vật chứng gồm: Số ma túy được niêm phong trong hai phong bì đều có số 230/PC09-MT, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01, QT02, có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong có chứa 01 ống thủy tinh màu trắng; 01 ống nhựa màu trắng và 01 nắp chai nhựa màu xanh có đục hai lỗ trên nắp.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân C số tiền 200.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng xanh, bên trong gắn 01 thẻ sim Viettel và 01 thẻ sim Mobiphone, điện thoại cũ đã qua sử dụng, song cần tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam để đảm bảo thi hành án về phần án phí đối với bị cáo.

- Trả lại cho ông Nguyễn Trung H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S sơn màu đen trắng, dung tích xi lanh 108, xe 02 chỗ ngồi, biển số 90B1-3xxx, số khung RLHJC5214CY131145; số máy JC52E-4170203, xe cũ, đã qua sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/01/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ