- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trọng N phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ'' - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HS-ST Ngày:14/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan
Bà Dương Thị Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND Thành phố Thanh hoá tham gia phiên toà:
Ông Trịnh Huy Anh - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2022/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Trọng N, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa:12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Trọng N và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; “Có mặt”.
- Bị hại: Anh Lê Đức P - Sinh ngày 19/8/2003 (Đã chết)
Địa chỉ: Phố S, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Hoàng Thị Gi - Sinh năm 1982 (Mẹ đẻ nạn nhân) “Có mặt”
Địa chỉ: Phố S, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ, ngày 27/5/2022, Lê Trọng N (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô Vinfast Fadil màu trắng, BKS 36A - 735.92 lưu thông trên đường vành đai phía Tây theo hướng phường Đông Cương, thành phố Thanh Hóa đi phường Đông Tân, thành phố Thanh Hoá. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau với đường Quốc lộ 45 thuộc địa phận phường Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hoá, thấy đèn tín hiệu giao thông báo màu xanh nên N đã chủ quan, tiếp tục điều khiển xe ô tô di chuyển thẳng vào ngã tư mà không giảm tốc độ. Khi đi vào ngã tư được khoảng 15m - 20m thì Nguyên phát hiện xe mô tô Yamaha Exciter màu đen, BKS 36B8 - 478.32 do anh Lê Đức P điều khiển theo hướng phường Phú Sơn, thành phố Thanh Hoá đi thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá cách đầu xe ô tô N điều khiển khoảng 0,5m - 1m. Do khoảng cách gần nên N không kịp xử lý, đánh lái tránh hoặc dừng xe kịp thời dẫn đến mặt ngoài ba đờ xốc trước của xe ô tô đâm va vào mặt ngoài cánh yếm bên phải, mặt ngoài bên phải thân xe mô tô, anh P văng xuống nền đường, xe mô tô bị xe ô tô đẩy đi khoảng 20m. Sau khi xảy ra vụ việc tai nạn giao thông, anh P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện, đến 06 giờ 30 phút, ngày 28/5/2022 anh P tử vong, 02 phương tiện xe ô tô và xe mô tô bị hư hỏng.
* Về hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại ngã tư đường Quốc lộ 45 - vành đai phía Tây thuộc phường Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa. Đường trải nhựa bằng phẳng, có hệ thống đèn báo tín hiệu ở mỗi chiều đi và có cắm biển báo cấm đi ngược chiều. Lấy cột đèn tín hiệu phía Đông Bắc ngã tư Quốc lộ 45 - vành đai phía Tây làm điểm mốc, lấy lề đường phía Tây Bắc (vạch giả định) đường vành đai phía Tây làm mép chuẩn xác định vị trí các dấu vết như sau:
- Vết (1): Vết cà trượt mặt đường kích thước (21,3 x 0,5)m, vết có chiều Đông Bắc - Tây Nam. Đầu vết cách điểm mốc 19m theo chiều Tây - Đông, cách mép chuẩn 2,1m theo hướng Đông Nam - Tây Bắc. Cách vạch giới hạn trong ngã tư hướng Đông Cương 21,5m, cách vạch giới hạn trong ngã tư theo hướng Phú Sơn là 37m. Cuối vết trùng với đầu mút giá để chân trước, giá để chân sau bên trái xe mô tô BKS 36B8 -4 78.32.
- Vết (2): Xe mô tô BKS 36B8 - 478.32 trong tư thế ngả nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng Tây Bắc, đuôi xe quay hướng Đông Nam. Đầu mút giá để chân trước, giá để chân sau bên trái trùng với cuối vết cà mặt đường số (1). Tâm trục bánh trước, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn lần lượt 0,3m và 1,5m.
- Vết (3): Vị trí xe ô tô BKS 36A - 735.92 trong tư thế dừng đỗ, đầu xe quay hướng Tây Nam, đuôi xe quay hướng Đông Bắc, hình chiều tâm trục bánh trước bên phải cách tâm trục bánh trước xe mô tô BKS 36B8 - 478.32 là 0,8m theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và cách mép chuẩn 0,3m. Hình chiều tâm trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn 0,3m.
- Vết (4): Vết máu kích thước (0,7x0,2)m. Tâm đám máu cách đầu vết (1) 6,4m theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cách mép chuẩn 4,3m theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
* Về khám nghiệm các phương tiện:
1. Điểm va chạm đầu tiên là giữa mặt ngoài ba đờ xốc trước, cách đầu mút bên trái 30cm xe ô tô BKS 36A - 735.92 với mặt ngoài cánh yếm phải; mặt ngoài bên phải thân xe của xe mô tô BKS 36B8 - 478.32.
2. Tại thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô BKS 36A - 735.92 chuyển động hướng phường Đông Cương đi phường Đông Tân va chạm vuông góc với xe mô tô BKS 36B8 - 478.32 chuyển động hướng phường Phú Sơn đi thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn.
3. Vị trí va chạm: trước đầu vết cà số (1) ở góc Đông Bắc ngã tư giao giữa Quốc lộ 45 với đường vành đai phía Tây, thuộc địa phận phố Đông, phường Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hoá.
4. Không đủ căn cứ xác định vận tốc của xe ô tô thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.”
* Về giám định tử thi Lê Đức Phú: Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số TT35/2022/TTPY ngày 17/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa, kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Lê Đức Phú là do chấn thương sọ não gây suy hô hấp tuần hoàn không hồi phục.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về mô bệnh học MBH 21/2022/TTPY ngày 05/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hoá, kết luận: Trên các mẫu mô đã gửi làm giám định pháp y về vi thể thấy hình ảnh mô bệnh học của tổn thương: phù và ngấm tụ các thành phần hữu hình của máu; hệ thống cơ, xương và mô mềm nhiều chỗ gián đoạn còn cầu cơ do dập nát. Hệ thống mạch máu nuôi dưỡng mô nhiều chỗ đứt đoạn và nham nhở không liên tục; thành mạch máu ngấm tụ và hiện hữu các thành phần hữu hình của máu.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về hoá pháp HP147/2022/TTPY ngày 16/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hoá, kết luận: Mẫu máu của Lê Đức Phú gửi giám định pháp y về hoá pháp không phát hiện thấy các chất ma tuý, không có cồn Methanol. Có cồn Ethanol nồng độ 29,1mg/100ml máu.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 11/7/2022, Lê Trọng N đã tự nguyện thoả thuận bồi thường dân sự cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
* Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu đen, BKS 36B8 - 478.32 và 01 xe ô tô Vinfast Fadil màu trắng, BKS 36A - 735.92, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho gia đình nạn nhân Lê Đức P và anh Lê Trọng N là các chủ sở hữu hợp pháp.
Tại bản cáo trạng số 261/CTr-VKS ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Lê Trọng N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh hoá luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Trọng N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 21 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 42 tháng. Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng và không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đó được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 15 giờ, ngày 27/5/2022, Lê Trọng N (có giấy phép lái xe ô tô hạng B2) điều khiển xe ô tô BKS 36A-735.92 theo hướng phường Đông Cương đi phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa, khi đi đến ngã tư đường vành đai phía Tây - QL45 thuộc phường Đông Lĩnh, thành phố Thanh Hóa do thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi qua nơi đường giao nhau dẫn đến đâm va vào xe mô tô BKS 36B8 - 478.32 do anh Lê Đức P điều khiển theo hướng phường Phú Sơn, thành phố Thanh Hóa đi thị trấn Rừng Thông, huyện Đông Sơn, hậu quả làm anh P tử vong. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Trọng N đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải, hành vi của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở và đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Trong tình hình hiện nay, tình trạng tai nạn do vi phạm an toàn giao thông ngày một gia tăng, nguyên nhân là do một số người khi tham gia giao thông chưa chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của luật giao thông đường bộ. Bị cáo Lê Trọng N mặc dù có giấy phép lái xe hợp lệ. Khi tham gia giao thông bị cáo đã không chấp hành đúng các quy định của Luật giao thông đường bộ, thiếu chú ý quan sát nên đã gây tai nạn làm anh Lê Đức P tử vong. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại về tính mạng của anh P mà còn gây hoang mang cho nhân dân khi tham gia giao thông, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý theo quy định của pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi khi tham gia giao thông.
Hội đồng xét xử xem xét đối với yêu cầu của gia đình người bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy rằng: Tội phạm này không phải thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, nên yêu cầu của gia đình người bị hại được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Với nhân thân, tính chất hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc lỗi vô ý và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên. Xét thấy việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội là không cần thiết mà để bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, các bên đã thoả thuận bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền theo thoả thuận và không có yêu cầu gì. Xét việc thoả thuận bồi thường giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật nên công nhận phần bồi thường đã thực hiện xong trước khi xét xử.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Xử phạt: Lê Trọng N 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho ủy ban nhân dân xã Hoằng Thịnh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận các bên đã thỏa thuận xong về phần trách nhiệm bồi thường dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - VKSND TP. Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an TP. Thanh Hóa; - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tân |