- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Nhật - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2022 giữa Cơ quan Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HS-ST Ngày 26-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Phong Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bích Ngọc
Ông Vũ Khắc Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế N, sinh ngày 07/4/198X tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Xóm 8 , thôn Q, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ký (đã chết) và bà Trần Thị T; có vợ là Khúc Thị D và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 10/11/2021; tạm giam ngày 12/11/2021; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 10/11/2021, Nguyễn Thế N điều khiển xe mô tô BKS: 27F1 – 5004 đi từ nhà tại Thôn Quán Khải, xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Bảo đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, N gặp một người phụ nữ đang bế con nhỏ, N có hỏi người phụ nữ “Chị ơi, em lấy con hàng”, ý N là hỏi mua heroin. N đưa cho người phụ nữ số tiền 200.000đồng, người phụ nữ nhận tiền rồi chỉ người nam giới đứng gần đó và nói với N “đi theo ông ấy”. N đi xe lại gần chỗ người nam giới mà người phụ nữ trên vừa chỉ rồi chở người nam giới đi vào trong ngõ 169 Trần Nguyên Hãn, phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng được khoảng 80m thì người nam giới trên bảo N dừng lại. N dừng xe rồi ngồi đợi còn người nam giới đi sâu vào trong ngõ (N không biết đi đâu). Khoảng 2-3 phút sau người nam giới quay lại chỗ N rồi đưa cho N 1 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long. N cầm vỏ bao thuốc lá vì biết bên trong có Heroin rồi cất vào trong túi quần phía trước đang mặc. Lúc này người nam giới bảo N về trước, N điều khiển xe máy đi ra đầu ngõ 169 Trần Nguyên Hãn thì bị tổ Công tác công an phường Trần Nguyên Hãn kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của N đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng hai gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy chứa chất bột màu trắng. Công an phường Trần Nguyên Hãn đưa N cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thế N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, ngoài ra còn khai: Chiếc xe mô tô BKS: 27F1-5004 N sử dụng đi mua ma túy do N mượn của một người bạn xã hội tên là Quỳnh vào sáng ngày 10/11/2021 tại khu vực đường Thiên Lôi, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. N không biết lai lịch, địa chỉ của Quỳnh, khi mượn N chỉ nói đi có việc, không nói dùng xe để đi mua ma túy.
Tại Bản Kết luận giám định số 607MT/PC09 ngày 12/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Thế N gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,22 gam là loại Heroin”.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKSLC ngày 04/01/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Thế N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thế N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thế N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thế N mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy và các mẫu vật còn lại sau giám định số 607MT/PC09 (vật Nhà nước cấm lưu hành).
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 27F1-5004, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý sau nên không đề nghị HĐXX xem xét giải quyết.
Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí của Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và tại lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về hòa đồng với xã hội và cải tạo thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, với người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với vật chứng thu giữ; Bản kết luận giám định số 607MT/PC09 ngày 12/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa; lời khai đó thể hiện: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 10/11/2021 Nguyễn Thế N có hành vi cất giữ trái phép 0,22 gam Heroin để sử dụng cho bản thân bị bắt quả tang tại đầu ngõ 169 Trần Nguyên Hãn, phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Như vậy hành vi của bị cáo đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo Nguyễn Thế N theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất gây nghiện và là nguyên nhân gây lên các tệ nạn xã hội, các bệnh dịch nguy hiểm cho con người, bị xã hội lên án nên phải xử lý nghiêm.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định (đã được niêm phong trong bì thư niêm phong số 607MT/PC09 ngày 12/11/2021) xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 27F1-5004, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ xử lý sau. HĐXX không xem xét.
Đối với người phụ nữ và người nam giới bán ma túy cho N, do N không biết lai lịch địa chỉ nên chưa có cơ sở để điều tra, làm rõ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thế N 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 10 tháng 11 năm 2021.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại và vỏ bao bì của mẫu vật thu giữ của bị cáo sau khi lấy mẫu gửi giám định đã được niêm phòng trong bì thư niêm phong số 607MT/PC09.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2022 giữa Cơ quan Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thế N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố;
- VKSND quận Lê Chân;
- Công an quận Lê Chân;
- Phòng PV06; PC10;
- THA hình sự;
- Chi cục THADS quận Lê Chân;
- Sở tư pháp;
Phạm Thị Phong Lan
- UBND nơi bị cáo cư trú;
- Lưu: HS, VT. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Lê Chân;
- VKSND TP Hải Phòng;
- Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- UBND xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng;
- Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân;
Phạm Thị Phong Lan
- PV06 Công an TP Hải Phòng;
- Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XƯ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Phong Lan
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - UBND phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân; - PV06 Công an TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Phong Lan |