- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn Linh đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2022/HS-ST Ngày: 20-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Diễn
Bà Ngô Thị Oanh Kiều
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế L – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành T- Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
- Nguyễn Văn L, sinh ngày 10/8/2002 tại Trà Vinh; nơi cư trú ấp LSB, xã ĐX, huyện DH, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép. Cụ thể: Ngày 14 tháng 12 năm 2020, bị cáo L bị Công an xã ĐA, huyện Trà Cú xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 64/QĐ-XPHC, với số tiền 1.500.000 đồng; nhân thân: Xấu; bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/10/2021 cho đến ngày 31/12/2021, có mặt.
- Người làm chứng:
Trần Minh Q, sinh năm 1987. Địa chỉ ấp GiĐ, xã ĐA, huyện TrC, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt
Trần Thanh T, sinh năm 1960. Địa chỉ ấp TrKh, xã ĐA, huyện TrC, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt
Trầm Minh Q1, sinh năm 2003. Địa chỉ ấp LSB, xã ĐX, huyện D, tỉnh Trà Vinh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cáo trạng số: 06/CT-VKS-HS, ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TrC, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi bị cáo bị truy tố như sau:
Vào ngày 28/6/2021 Công an xã ĐA, huyện TrC, tỉnh Trà Vinh nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà bà Lâm Thị S, sinh năm 1948, nơi cư trú ấp XL, xã ĐA, huyện TrC, tỉnh Trà Vinh có nhiều đối tượng tụ tập lắc bầu cua cá cược thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã ĐA tiến hành đến địa điểm tại nhà bà Sơn để kiểm tra, phát hiện mời các đối tượng về Cơ quan Công an xã làm việc gồm: Trần Minh Q, Trần Thanh T, Trầm Minh Q1 và Nguyễn Văn L. Riêng một số đối tượng khác cùng tham gia đánh bạc không rõ họ tên và địa chỉ đã bỏ chạy.
Bị cáo L và Q1, T và Q đã khai nhận bắt đầu chơi đánh bạc từ khoảng 20 giờ ngày 28/6/2021 đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị phát hiện, bị cáo L là người trực tiếp làm cái cho các nhà con tham gia đánh bạc gồm: Trần Minh Q, Trần Thanh T, Trầm Minh Q1 và một số đối tượng khác tham gia đánh bạc không rõ họ tên và địa chỉ. Bị cáo L và các đối tượng đánh bạc quy định với hai hình thức đặt cược: Đặt chính (tức: nhà con đặt số tiền muốn tham gia vào một trong sáu hình: bầu, cua, nai, tôm, gà, cá.) và đặt khe (tức: nhà con đặt số tiền vào hai trong sáu hình: bầu, cua, nai, tôm, gà, cá), số tiền mỗi một hình đặt cao nhất là 20.000 (hai mươi ngàn) đồng và thấp nhất là 5000 (năm ngàn đồng).
- Bị cáo Nguyễn Văn L sử dụng số tiền 150.000 đồng để đánh bạc, làm nhà cái nhiều ván. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, bị cáo L đã thua hết số tiền 40.000 đồng, còn lại 110.000 đồng, bị cáo L làm rơi mất trong quá trình bỏ chạy nên công an không thu giữ được.
- Ông Trần Minh Q sử dụng số tiền 20.000 đồng để đánh bạc, tham gia với vai trò tay con, đánh bạc liên tục nhiều ván. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, ông Q đã thua hết số tiền 20.000 đồng.
- Ông Trần Thanh T sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, tham gia với vai trò tay con, đánh bạc liên tục nhiều ván. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, ông T đã thua hết số tiền 70.000 đồng, còn lại 130.000 đồng ông T làm rơi mất trong quá trình bỏ chạy nên công an không thu giữ được.
- Trầm Minh Q1 sử dụng số tiền 390.000 đồng để đánh bạc, tham gia với vai trò tay con, đánh bạc liên tục nhiều ván. Khi lực lượng Công an đến kiểm tra, Q1 đã thắng được số tiền 110.000 đồng, Công an thu giữ số tiền 500.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền mà bị cáo L và các đối tượng trên dùng để đánh bạc, thu giữ được là 500.000 đồng.
Ngày 14/12/2020, bị cáo L bị Công an xã ĐA, huyện TrC, tỉnh Trà Vinh phạt tiền là 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 64/QĐ-XPHC. Đến ngày 28/6/2021 bị cáo L, chưa đóng tiền phạt nhưng đã tiếp tục đánh bạc. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. (Bút lục 31-35).
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Ngày 05/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện TrC ra Quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,8 mét x 1,5 mét, 01 cái hộp bằng nhựa dạng tròn, có quấn băng keo phía ngoài màu đen có chiều cao 11 cm, đường kính 17,5 cm; 03 (ba) hột bầu cua có in hình: bầu, cua, nai, tôm, gà, cá; 01 bàn bầu cua bằng giấy có in hình tương ứng với hột bầu cua và 01 miếng kim loại có chiều cao 02 cm, đường kính 21,5 cm.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L, người làm chứng ông Trầm Minh Q1 trình bày thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép với nhau ngày 28/6/2021 bằng hình thức chơi lắc bầu cua như cáo trạng truy tố là đúng.
Kiểm sát viên giữ Q công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”. Về áp dụng pháp luật đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Về vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,8 mét x 1,5 mét, 01 cái hộp bằng nhựa dạng tròn, có quấn băng keo phía ngoài màu đen có chiều cao 11 cm, đường kính 17,5 cm; 03 (ba) hột bầu cua có in hình: bầu, cua, nai, tôm, gà, cá; 01 bàn bầu cua bằng giấy có in hình tương ứng với hột bầu cua và 01 miếng kim loại có chiều cao 02 cm, đường kính 21,5 cm. Về án phí buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn L không phát biểu tự bào chữa, không tranh luận và không nói lời nói sau cùng;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Văn L có lời khai thừa nhận khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/6/2021, tại ấp XL, xã ĐA, huyện TrC, tỉnh Trà Vinh, Nguyễn Văn L đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức chơi lắc bầu cua, bị cáo L mang theo số tiền 150.000 đồng để đánh bạc, đã thua hết số tiền 40.000 đồng, còn lại 110.000 đồng, bị cáo L làm rơi mất trong quá trình bỏ chạy. Ông Trần Minh Q sử dụng số tiền 20.000 đồng để đánh bạc, thua hết 20.000 đồng, ông Trần Thanh T sử dụng số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, đã thua hết 70.000 đồng, còn lại 130.000 đồng (làm rớt mất khi Công an vào kiểm tra) và ông Trầm Minh Q1 sử dụng số tiền 390.000 đồng để đánh bạc, thắng được số tiền 110.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo L và các đối tượng trên dùng để đánh bạc, thu giữ được là 500.000 đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn L trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa là thống nhất với nhau và phù hợp với các biên bản lấy lời khai của ông Trần Minh Q, ông Trần Thanh T và ông Trầm Minh Q1, phù hợp với hình thức đánh bạc là lắc bầu cua, phù hợp về mức tiền đặt khi cá cược, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và vật chứng vụ án thu giữ tại hiện trường. Mặt dù, số tiền bị cáo Nguyễn Văn L và các đối tượng cùng tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo L đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 64/QĐ-XPHC, ngày 14/12/2020 của Công an xã ĐA, huyện Trà Cú về hành vi đánh bạc trái phép với số tiền 1.500.000 đồng. Đến ngày 28/6/2021 bị cáo L chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 mà còn có hành vi đánh bạc trái phép nên hành vi đánh bạc trái phép của bị cáo Nguyễn Văn L lần này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Nguyễn Văn L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; động cơ, mục đích của bị cáo là vì vụ lợi, nhằm thu lợi bất chính. Bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép nhưng bị cáo vẫn xem thường sự nghiêm minh của pháp luật, bị cáo đã chuẩn bị công cụ, phương tiện để rủ rê, lôi kéo người khác tham gia đánh bạc với mình nên cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Hành vi đánh bạc trái phép của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, đánh bạc là một trong những tệ nạn xã hội làm cho nhiều người mất nhà cửa, phát sinh mâu thuẫn gia đình dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gia đình và đánh bạc còn được xem là một trong những nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội và tội phạm khác.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có học vấn thấp nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Ngoài ra, bị cáo còn là lao động chính. Xét đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Số tiền bị cáo đánh bạc là không lớn, tính chất vụ án ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu cho bị cáo hưởng án treo sẽ không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này tại địa bàn huyện Trà Cú. Vì vậy, cần thiết áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo nhằm tác động đến lợi ích kinh tế của bị cáo, để bị cáo có nhận thức về hành vi sai trái của mình mà từ bỏ hành vi đánh bạc.
Đối với hành vi đánh bạc của Trần Minh Q, ông Trần Thanh T và ông Trầm Minh Q1 chỉ vi phạm hành chính nên Công an xã ĐA đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền mà các đối tượng trên sử dụng đánh bạc là đúng pháp luật.
Đối với 01 (một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,8 mét x 1,5 mét, 01 cái hộp bằng nhựa dạng tròn, có quấn băng keo phía ngoài màu đen có chiều cao 11 cm, đường kính 17,5 cm; 03 (ba) hột bầu cua có in hình: bầu, cua, nai, tôm, gà, cá; 01 bàn bầu cua bằng giấy có in hình tương ứng với hột bầu cua và 01 miếng kim loại có chiều cao 02 cm, đường kính 21,5 cm, đây là công cụ dùng vào việc đánh bạc. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có ai khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố. Qua kiểm tra và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm Q tiến hành tố tụng, các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, các biên bản hoạt đồng điều tra của Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường… được thu thập là đúng thẩm Q, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc chiếu lát có kích thước 1,8 mét x 1,5 mét, 01 cái hộp bằng nhựa dạng tròn, có quấn băng keo phía ngoài màu đen có chiều cao 11 cm, đường kính 17,5 cm; 03 (ba) hột bầu cua có in hình: bầu, cua, nai, tôm, gà, cá; 01 bàn bầu cua bằng giấy có in hình tương ứng với hột bầu cua và 01 miếng kim loại có chiều cao 02 cm, đường kính 21,5 cm.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 06/QĐ-VKS-HS, ngày 29/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tr C, tỉnh Trà Vinh).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về Q kháng cáo: Bị cáo có Q kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Trà Cú; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - TAND tỉnh Trà Vinh; - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú; - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú; - Cơ quan THADS huyện Trà Cú; - Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Truyền |