vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Tuyên án 18/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/8/2021. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn S- TTTTMT (1) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
HUYỆN TAM ĐƢỜNG
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày: 18/02/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƢỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Duy Cường

Ông: Hạng A Sính

Thư ký phiên toà: Ông Sùng A Thắng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Hữu – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Lò Văn S – (tên gọi khác: Không), Sinh ngày: 20/7/1995 tại huyện U, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản NH, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Lào; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lò Văn P (đã chết); Con bà: Lò Thị X, sinh năm 1979; Gia đình bị cáo có 03 anh, em ruột. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo Lò Văn S bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lò Văn H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bản PT, xã M, huyện U, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 25/8/2021 Lò Văn S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1- 078.73 của Lò Văn H sinh năm: 1988 trú tại bản PT, xã M, huyện U, tỉnh Lai Châu đi đến bản trung tâm, xã N, huyện T để tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân (H không biết S sử dụng xe mô tô để làm phương tiện phạm tội). Khi đi đến bản Trung Tâm, xã N, huyện T, Lò Văn S gặp một người nam giới khoảng 28 tuổi, S không biết nhân thân, lai lịch của người nam giới này, nhìn giống người ngiện ma túy, S nhờ người nam giới này mua hộ 50.000 đồng Heroine, người nam giới nhất trí và cầm tiền đi đâu, làm gì S không biết, khoảng 10 phút sau người nam giới quay lại đưa cho Lò Văn S một gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh được buộc xoắn một đầu.

Sau khi mua được Heroine, S cầm ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô BKS: 25B1 - 078.73 đi về xã M, huyện U, khi đi đến Bản NH, xã N do nên cơn nghiện nên S dừng xe ở lề đường, đi vào bụi cây ven đường rồi lấy gói Heroine vừa mua được cấu ra một ít sử dụng bằng hình thức hít. Sử dụng Heroine xong S chia số Heroine còn lại thành hai gói, mỗi gói đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh đốt dính một đầu, sau đó S xé một mảnh giấy từ vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long gói ngoài hai gói Heroine rồi cầm ở tay trái rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về xã M, huyện U để trả xe cho Lò Văn H. Khi đi đến khu vực đồi chè thuộc thuộc địa phận bản H, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu. Lò Văn S thấy lực lượng Công an xã B, huyện T đang làm nhiệm vụ tại đây, do sợ bị phát hiện nên S đã thả số ma túy trên từ tay trái xuống mặt đường thì bị tổ công tác Công an xã B, huyện T phát hiện, bắt quả tang vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 25/8/2021.

Tại bản kết luận giám định số 42/KLGĐ ngày 26/8/2021 của ông Phan Văn Huỳnh - Người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, theo Quyết định công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Kết luận: 02 (hai) gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Văn S có tổng khối lượng 0,1 gam (Không phẩy một gam).

Tại bản kết luận giám định số 717/GĐ-KTHS ngày 29/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 mẫu chất bột khô màu trắng gửi giám định là ma túy loại Heroine.

Ngoài ra cơ quan điều tra còn tạm giữ của Lò Văn S 01 xe mô tô BKS: 25B1 – 078.73; 01 bao thuốc lá Thăng Long, vỏ bao bị xé một mảnh bên trong còn 04 điếu; 01 bật lửa ga màu trắng.

Hiện vật chứng còn lại đang được bảo quản, quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T. Việc thu giữ, tạm giữ vật chứng đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bản cáo trạng số 38/CT-VKSTĐ, ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Lò Văn S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn H trình bày: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1- 078.73 là tài sản hợp pháp của anh H, khi bị cáo Lò Văn S mượn xe anh H không ở nhà nên không biết, nay anh H không có phương tiện đi lại đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh H chiếc xe trên, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn S từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2021. Đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1, khoan 2 điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- Một phong bì Công văn do Công an huyện T phát hành niêm phong lại bằng cách dùng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của Lò Văn Quốc, Phan Văn Huỳnh, Đặng Văn Hữu, Nguyễn Sỹ Bách, Trần Đăng Hùng và chữ ký của người bị bắt Lò Văn S, mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh giấy xé ra từ vỏ bao thuốc lá, hai mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn S sinh năm 1995, trú tại Bản NH, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện T.

- Một bật lửa gas màu trắng.

- 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, vỏ bao bị xé một mảnh, bên trong còn 04 điếu.

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn H: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ, BKS: 25B1 – 078.73 số máy: JC52E-4313151, số khung: RLHJC5211CY218260, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (kèm theo chìa khóa). Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi phạm tội của bị cáo; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lò Văn S đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 25 tháng 8 năm 2021 tại khu vực đồi chè thuộc bản H, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu Lò Văn S đang tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,1 gam mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, gây tổn hại cho sức khỏe của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện chất ma túy nên đã thúc đẩy bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát huyện T đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng qui định pháp luật.

Nhà nước ta đang đấu tranh quyết liệt để loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội và xử phạt nghiêm khắc đối với những người nào có các hành vi liên quan đến ma túy, bị cáo là người nghiện chất ma túy nên đã nhờ một người nam giới khoảng 28 tuổi, không quen biết mua hộ 50.000 đồng Heroine để sử dụng cho nhu cầu của bản thân. Xét cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản gì đáng giá nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Những vấn đề liên quan:

Đối với người nam giới khoảng 28 tuổi đã mua Heroine cho bị cáo vào ngày 25/8/2021 tại khu vực bản Trung Tâm, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu. Do nhân thân lai lịch của người nam giới này không rõ ràng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý;

Đối với Lò Văn H sinh năm: 1988 trú tại bản PT, xã M, huyện U, tỉnh Lai Châu là chủ sở hữu xe mô tô BKS: 25B1 – 078.73. Lò Văn H không biết Lò Văn S lấy xe mô tô của mình làm phương tiện phạm tội nên H không đồng phạm với Lò Văn S về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng:

Đối với:

- Một phong bì Công văn do Công an huyện T phát hành niêm phong lại, mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh giấy xé ra từ vỏ bao thuốc lá, hai mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn S sinh năm 1995, trú tại Bản NH, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu”; Một bật lửa gas màu trắng; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, vỏ bao bị xé một mảnh, bên trong còn 04 điếu, là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ, BKS: 25B1 – 078.73 (kèm theo chìa khóa) là tài sản của anh Lò Văn H, khi bị cáo S lấy xe đi mua ma túy anh Lò Văn H không biết nên cần trả lại cho anh Lò Văn H là phù hợp.

Án phí:

Áp dụng điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 25/8/2021.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy:

- Một phong bì Công văn do Công an huyện T phát hành niêm phong lại, mặt trước phong bì ghi: “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, mảnh giấy xé ra từ vỏ bao thuốc lá, hai mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn S sinh năm 1995, trú tại Bản NH, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu”; Một bật lửa gas màu trắng; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, vỏ bao bị xé một mảnh, bên trong còn 04 điếu.

Trả lại cho anh Lò Văn H: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ, BKS: 25B1 – 078.73 (kèm theo chìa khóa).

Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lai Châu.

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5, Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Cỡ chữ