vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lương Văn T phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Lương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt Lương Văn T 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2021. Phạt Lương Văn H 03 (Ba) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lương Văn T phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Lương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ PHONG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày 29/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mong Văn Nga và ông Lang Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Huyền Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong tham gia phiên toà:

Bà Vi Thị Minh, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 13/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Lương Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1968, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên trồng trọt; trình độ học vấn : Không học; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn C (Đã chết); con bà: Hà Thị C (Đã chết); có vợ: Hà Thị L và 03 người con; tiền án: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 19/10/2021; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong xử phạt 30 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; năm 2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2021. Có mặt.

2. Lương Văn H: tên gọi khác: Không; sinh ngày 28/6/1991, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Nguyên lao động tự do; trình độ học vấn : Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Q; con bà : Lô Thị S; có vợ: Trần H và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 09/11/2019; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2021. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Lương Văn T và Lương Văn H: Ông Nguyễn Thái Q, Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý, chi nhánh trợ giúp pháp lý số 2 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1993; trú tại bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2021, Lương Văn H đến bản T, xã M, huyện Q mua Heroine với Lương Văn T, với giá 1.500.000 đồng. Mua được ma túy H đưa về nhà chia thành 3 gói nhỏ để sử dụng dần. Ngày 21/12/2021 Lương Văn H đón xe khách ra tỉnh Bắc Ninh làm thuê, khi xe đến Ngã ba Truông Bành, xã Tiền Phong, huyện Quế Phong thì bị bắt quả tang. Thu 03 gói chất bột màu trắng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A15 màu đen. Cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong thi hành lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở của Lương Văn T; qua khám xét đã thu 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen; 1.500.000 đồng và 7 gói chất bột màu trắng .

Bản kết luận giám định số 42/KL- PC09(MT) ngày 26/12/2021 của phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn H gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn H gửi tới giám định có tổng khối lượng 2,6 g (Hai phẩy sáu gam)

Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Văn T gửi tới giám định có tổng khối lượng 2,14 g (Hai phẩy mười bốn gam)

Tại phiên tòa các bị cáo Lương Văn T và Lương Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cụ thể: Ngày 19/12/2021, tại xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An Lương Văn T bán trái phép Heroine cho Lương Văn H với giá 1.500.000 đồng. Mục đích bị cáo Lương Văn H mua Heroine là để sử dụng. Ngày 21/12/2021 Lương Văn H đến ngã ba Truông Bành, xã Tiền Phong, huyện Quế Phong thì bị bắt quả tang, thu 2,6 gam Heroine. Ngày 21/12/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Văn T, qua khám xét thu giữ 1.500.000 đồng tiền bán trái phép chất ma túy; thu 2,14 gam Heroine bị cáo T cất giấu để sử dụng.

Cáo trạng số 19/CT-VKS- HS ngày 08/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn T về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Đối với người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Lương Văn T do không xác minh được họ tên và địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55 của Bộ luật hình sự; xử phạt:

Bị cáo Lương Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội từ 05 năm đến 06 năm tù.

Đề nghị áp dụng dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt:

Bị cáo Lương Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động và 1.500.000 đồng tiền bán ma túy; miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Người bào chữa không tranh luận về tội danh; đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Lương Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Mặc dù không được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, nhưng ngày 19/12/2021, tại xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An Lương Văn T đã bán Heroine cho Lương Văn H. Ngày 21/12/2021 Lương Văn H bị bắt quả tang; thu 2,6 gam Heroine. Ngày 21/12/2021 khám xét nơi ở của Lương Văn T, thu giữ 2,14 gam Heroine. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Đối với Lương Văn T tàng trữ 2,14 gam Heroine và bị cáo Lương Văn H tàng trữ ma túy 2,6 gam Heroine, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy, do đó bị cáo Lương Văn T đã phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, mà còn làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, nòi giống của con người, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng; bị cáo Lương Văn T có một tiền án chưa được xóa án tích, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại đểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Lương Văn T và Lương Văn H có nhân thân xấu. Vì vậy cần xét xử nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên trước phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Lương Văn H có bố tên Lương Q là thương binh, và được tặng thưởng huân chương chiến sỹ giải phóng; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lương Văn T phạm hai tội, nên áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong đề nghị xử phạt: Lương Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hợp lý. Đại diện viện kiểm sát đề nghị xử phạt Lương Văn T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề phị xử phạt Lương Văn H 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy; từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Lương Văn H từ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa là thấp so với số lượng ma túy bị thu giữ và nhân thân của các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, các bị cáo không có tài sản gì đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 2,6 gam Heroine thu giữ của bị cáo Lương Văn H. Cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 0,5 gam, còn lại 2,1 gam; đối với 2,14 thu giữ của bị cáo Lương Văn T. Cơ quan điều tra đã lấy đi giám định chất ma túy 0,2 gam, còn lại 1,94 gam; đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 1.500.000 đồng bán trái phép chât ma túy, đây là tiền do phạm tội mà có, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Đối với hai chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo Lương Văn H và Lương Văn T là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Lương Văn T phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Lương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Phạt Lương Văn T 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2021.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Phạt Lương Văn H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2021.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ một phong bì bên trong đựng 2,1 g (Hai phẩy một gam) Heroine, vỏ gói ma túy, thu giữ của Lương Văn H và vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu. Tịch thu tiêu huỷ một phong bì bên trong đựng 1,94 g (Một phẩy chín mươi bốn gam) Heroine, vỏ gói ma túy, thu giữ của Lương Văn T và vỏ bao bì niêm phong vật chứng ban đầu. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 (Hai) chiếc điện thoại di động thu giữ của Lương Văn H và Lương Văn T.

Chi tiết vật chứng được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận ngày 04/3/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quế Phong với Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lương Văn T, hiện nay đang tạm gửi tại Kho bạc nhà nước huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lương Văn T và Lương Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Lương Văn T và Lương Văn H có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ